Lịch xét xử
Án điểm trong tháng
 
Tìm kiếm
 
 
Thống kê truy cập
 
Danh bạ ngành Tòa án
VKS
Báo Bắc Ninh
Cục THA Dân sự tỉnh Bắc NInh
Phung Gia Co,.Ltd
SBLAW
 

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nhận thức và áp dụng điều 190 Bộ luật hình sự

Cập nhật: 13/05/2012

  



  I. Đặt vấn đề:

Việt Nam có diện tích tự nhiên khoảng 331.688km2, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, được đánh giá là một trong những nước có đa dạng sinh học cao trên thế giới, theo thống kê Việt Nam có khoảng 11.458 loài động vật với 310 loài thú, 840 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, trên 700 loài cá nước ngọt và khoảng 2000 loài cá biển và hàng ngàn loài động vật không xương, sống trên cạn và dưới nước.

Theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐCP ngày 30/3/2006 của Chính phủ thì động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm 1B nghiêm cấm khai thác sử dụng bao gồm 62 loài. Theo đánh giá, Việt Nam là nơi cư trú của 10% các loài động, thực vật trên thế giới, trong đó có 28 loài động vật có vú, 10% loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng cư đang bị suy giảm và đe dọa. Nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm quần thể của các loài là do nạn buôn bán và săn bắn bất hợp pháp, dẫn đến nhiều loại động vật nguy cấp, quý, hiếm đã tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.

Hoạt động buôn bán động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm ngày càng có chiều hướng phát triển mạnh, không chỉ ở việc khai thác và tiêu thụ trong nước mà còn mang tính khu vực vì thế, Việt Nam được xem như là một nước có vai trò trung chuyển và quá cảnh động vật hoang dã quý, hiếm của một số nước trong khu vực. Hiện nay có khoảng 200 loài động vật hoang dã, trong đó có khoảng 80 loài động vật quý hiếm được kinh doanh, sử dụng trên thị trường Việt Nam. Phần lớn các loài đó bị khai thác bất hợp pháp, ước tính hàng năm có khoảng 4.000 đến 4.500 tấn động vật hoang dã buôn bán vận chuyển hợp pháp từ Việt Nam sang Trung Quốc, trong đó chủ yếu là các loại linh trưởng, gấu, tê tê, rùa, rắn, ngà voi, sừng tê giác và các thành phẩm, dẫn xuất của các loài động vật hoang dã. Phần lớn động vật được thu gom từ Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan… chuyển sang Việt Nam và Trung Quốc.

Ví dụ: Trong năm 2010, Chi cục kiểm lâm Quảng Ninh đã phối hợp với các ngành bắt giữ và xử lý 46 vụ vi phạm các quy định về mua, bán, vận chuyển động vật hoang dã các loại trong đó: xử lý hành chính 40 vụ, xử lý hình sự 06 vụ, tịch thu 3.156,3 kg động vật hoang dã quý, hiếm điển hình như: Hồi 16h ngày 31/12/2009, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh đã bắt giữ một ô tô vận chuyển 155,5 kg Tê tê vàng.

Trung tuần tháng 3/2010 Cảnh sát giao thông tỉnh Quảng Ninh đã kiểm tra và bắt giữ một xe ô tô chứa một lượng ngà voi gồm 30 chiếc còn nguyên vẹn và 15 đoạn đã bị cắt rời giấu dưới sàn xe và trong nắp ca pô.

Tại Hải Phòng, với vỏ bọc “tạm nhập tái xuất” trong tháng 5/2010, Hải quan Hải Phòng đã phát hiện, bắt giữ bốn vụ nhập lậu ngà voi cụ thể: Ngày 6/5/2010 Phát hiện 2.194,2 kg ngà voi cất giấu trong lô hàng rong biển, có hành trình từ Châu Phi đi Singapo rồi về Hải Phòng. Ngày 13/5/2010 phát hiện 1.518,43 kg ngà voi thuộc hàng tạm nhập, tái xuất. Ngày 25 và 28/5/2010 phát hiện hai vụ gồm 370kg ngà voi trong Container vỏ ốc và 1.245,6kg trong lô hàng rong biển khô. Cả hai vụ này các đối tượng đều sử dụng chiêu bài tạm nhập tái xuất, đưa ngà voi sang nước thứ ba.

Ngày 4/5/2011 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ Công an thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Dương Thị Tư, tiến hành khám xét nơi ở và trụ sở làm việc của thị Tư đã thu giữ 2,7kg sừng tê giác, 20 kg ngà voi, 2 kg da hổ, 0,8 kg nanh gấu, 60 vuốt báo hoa mai, 33 vuốt nanh hổ, 17 sừng bò rừng, 03 đôi sừng bò tót, một bộ da báo, một bộ xương beo lửa, 08 con cu ly nhỏ đã chết, một bộ xương gấu cùng nhiều bộ phận khác của các loài động vật quý, hiếm như: Mật, cao, dương vật xương, sừng, nanh, bao tử, nhung, ngạc dùng để bào chế các loại dược liệu cường dương bổ thận.

Ngày 18/7/2011, Nguyễn Phương Tuấn và Đặng Minh Khắc trú tại Ninh Hòa – Khánh Hòa đã vào vườn quốc gia Núi chúa bắt chết 15 con vọoc chà vá chân đen là loài động vật quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, cấm săn bắn…

Có thể nói các vi phạm pháp luật trong mua, bán, vận chuyển động vật hoang dã vẫn diễn ra phức tạp, thủ đoạn phạm tội và vi phạm ngày càng tinh vi, liều lĩnh, manh động và thách thức rất lớn vì thế để bảo vệ động vật hoang dã, đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện pháp luật và sự chung tay phối kết hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong việc kiểm soát các vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.

II. Những quy định của pháp luật về bảo vệ và xử lý những hành vi quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự.

Để bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm nói riêng và môi trường nói chung, Việt Nam đã xây dụng nhiều chính sách nhằm định hướng cho quản lý và bảo vệ tài nguyên, thiên nhiên, bảo vệ môi trường, trong đó bao gồm cả những chính sách cụ thể về quản lý buôn bán động thực vật hoang dã như:

- Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (năm 2003) đã nhấn mạnh “Kiểm soát chặt chẽ việc buôn bán các loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao; loại bỏ các phương thức khai thác hủy diệt, đặc biệt khai thác thủy sản; đẩy mạnh các biện pháp bảo tồn nội vi kết hợp với bảo tồn ngoại vi”

- Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động vật, thực vật hoang dã đến năm 2010 (năm 2004) đã nhận định “…Việt Nam đang phải đối mặt với tình trang khai thác, săn bắt, vận chuyển, buôn bán và sử dụng bất hợp pháp động thực vật hoang dã diễn ra rất nghiêm trọng trong nền kinh tế thị trường. Công tác kiểm soát bảo vệ động thực vật hoang dã hiện chưa đạt được hiệu lực và hiệu quả như mong muốn”.

Ngoài ra còn có Nghị định 32/2006 ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm đi kèm theo đó là danh mục động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng.

Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, trong đó có quy định mức phạt cao nhất từ 400.000.000đ đến 500.000.000đ đối với:

- Động vật rừng hoặc bộ phận của chúng không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm có giá trị từ trên 270.000.000đ.

- Động vật rừng hoặc bộ phận của chúng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB có giá trị từ trên 160.000.000đ.

- Nuôi trái phép từ trên 08 cá thể động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B.

Đánh giá được tầm quan trọng của môi trường sinh thái cũng như nhận thức được tình trạng đang bị suy thoái và ô nhiễm nặng nề của môi trương thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, trong nhiều trường hợp đã gây ra nhiều thiệt hại vượt ra ngoài khả năng ngăn chặn của con người. Bộ luật hình sự năm 1985 cũng đã dành một số điều để quy định tội phạm và hình phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường như các điều 180, 181, 195, 216… Tuy nhiên, các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường của nước ta vẫn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và thiếu cụ thể… Chính vì vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 đã dành một chương quy định về các tội phạm về môi trường. Theo đó:

Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu qảu xấu đối với môi trường sinh thái.

Các tội phạm về môi trường được quy định tại chương XVII bao gồm 10 điều luật quy định về 10 tội danh khác nhau. Để các quy định của pháp luật hình sự và phù hợp với thực tiễn đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, tại kỳ họp thứ 5 ngày 19/6/2009 Quốc hội khóa 12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 33/2009/QH12 trong đó có bổ sung thêm Điều 191a “Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại” và sửa đổi, bổ sung một số điều luật của chương này, trong đó có Điều 190 BLHS.

Theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 thì Điều 190 BLHS được sửa đổi, bổ sung thành “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm” thay cho quy định trước đây chỉ là “động vật hoang dã quý, hiếm”. Điều 190 BLHS hiện hành đã quy định:

“1. Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a/ Có tổ chức;

b/ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c/ Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắn bị cấm;

d/ săn bắn trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;

đ/ gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhát định từ một năm đến năm năm.”

Đê thống nhất trong việc áp dụng các quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự tại Thông tư liên tịch số 19/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 08 tháng 03 năm 2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản theo đó:

“Săn bắn, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật nguy cấp, quý, hiếm” là việc săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán các loài động vật rừng thuộc nhóm 1B không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

“Vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loài động vật đó” là việc vận chuyển, buôn bán các loại sản phẩm như thịt, xương, sừng, da, lông, ngà, móng vẩy, răng và các bộ phận khác từ cơ thể các loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm 1B mà không có giấy tờ hợp pháp. Trương hợp các loại sản phẩm này đã được chế biến, chế tác thành hàng hóa hoặc nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất… thì xử lý theo quy định của pháp luật đối với hàng cấm.

Hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 190 BLHS khi thuộc một trong các trường hợp sau:

a/ Săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B với số lượng cá thể dưới mức tối thiểu “gây hậu quả rất nghiêm trọng”.

b/ Vận chuyển, buôn bán các sản phẩm của động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B có giá trị đến 50.000.000đ.

Về một số tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 190 BLHS là:

a/ “Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm” là sử dụng các loại vũ khí quân dụng (kể cả đã được cải biến), các loại tên tẩm thuốc độc hoặc dùng chất độc, đào hầm, hố, cắm chông, bẫy kiềng lớn, bẫy cắm chông, bẫy gài lao, bẫy sập, dùng khúc gỗ lớn hoặc răng sắt lớn, dùng đèn soi, gài súng và các công cụ, phương tiện nguy hiểm khác, mà cơ quan có thẩm quyền quy định không được phép sử dụng để săn bắt ở địa bàn đó hoặc đối với loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đó.

b/ “Săn bắt trong khu vực bị cấm” là việc săn bắt trong khu vực bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia hoặc săn bắn trong các khu vực rừng có quy định cấm khác theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

c/ “Săn bắt vào thời gian bị cấm” là săn bắt động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vào mùa sinh sản hoặc vào mùa di cư của chúng.

d/ “Gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” là thuộc một trong các trường hợp sau:

d.1/ Săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B với số lượng cá thể quy định tại phụ lục của Thông tư.

d.2/ Vận chuyển, buôn bán các sản phẩm của động vật rừng thuộc loại nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B có giá trị từ trên 50 triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc trên một trăm triệu đồng

d.3/ Săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật rừng thuộc loại nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B có số lượng cá thể ở mức “gây hậu quả rất nghiêm trọng” quy định tại phụ lục của Thông tư và còn vận chuyển, buôn bán trái phép các sản phẩm của động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B có giá trị đến 50 triệu đồng hoặc đến một trăm triệu đồng…

Tuy Điều 190 BLHS đã quy định rất cụ thể và có hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 19/2007 ngày 08/03/2007, song việc xử lý bằng hình sự theo quy định tại Điều 190 BLHS còn rất hạn chế như trong năm 2010 tỉnh Quảng ninh phát hiện bắt giữ 46 vụ thì chỉ có 06 vụ được chuyển sang xử lý bằng hình sự còn lại là xử lý hành chính. Theo ước tính của Cục cảnh sát môi trường, số vụ buôn bán trái phép bị phát hiện, bắt giữ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số vụ trên thực tế bởi những kẻ buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã đã dùng thủ đoạn hòng qua mặt những cơ quan chức năng. Tại sao lại có tình trạng này, qua nghiên cứu chúng tôi thấy việc xử lý bằng hình sự quá ít so với số lượng các vụ vi phạm được phát hiện tập trung vào những nguyên nhân sau:

- Nhiều vụ án Cơ quan điều tra chỉ khởi tố được vụ án mà không khởi tố được đối tượng. Vì tất cả các vụ sau khi được phát hiện không một doanh nghiệp, cá nhân nào đứng ra nhận hàng, hoặc có mở tờ khai nhưng cũng viện lý do chối bỏ lô hàng. Thực tế, chúng ta chưa có đủ chứng cứ kết luận đơn vị, cá nhân đứng ra mở tờ khai là chủ nhân buôn lậu. Các đối tượng trong nước chỉ là người được thuê làm thủ tục và vận chuyển hộ chứ không biết trong lô hàng đó có giấu hàng cấm.

- Nhiều thuật ngữ và khái niệm được sử dụng không thống nhất trong các văn bản và chính sách, đặc biệt là thuật ngữ và khái niệm về “loài quý hiểm, loài nguy cấp, loài bị đe dọa…”. Việc sử dụng thuật ngữ không thống nhất gây hiểu lầm và khó khăn trong khi thực hiện, đặc biệt là sự hiểu khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

- Do các địa bàn trọng điểm buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã có diện tích rừng rộng lớn, địa hình, địa thế phức tạp đường xá giao thông đi lại khó khăn, một số tỉnh có đường biên giới dài. Các đối tượng phạm tội lợi dụng điều kiện tự nhiên đó vào rừng săn bẫy, buôn bán với nhiều thủ đoạn hoạt động tinh vi. Có những trường hợp đối tượng vào rừng săn, bẫy nhiều ngày, chế biến sản phẩm ngay tại rừng sâu, sau đó mới đưa ra ngoài tiêu thụ. Do vậy, công tác phát hiện bắt giữ gặp rất nhiều khó khăn.

- Hành lang pháp lý về quản lý cũng như xử lý vi phạm về bảo vệ động vật hoang dã chưa đồng bộ, thống nhất. Ví dụ như: Điều 190 BLHS quy định về việc cấm các hành vi buôn bán, vận chuyển, săn, bắt, nuôi, nhốt, giết mổ trái phép động vật hoang dã quý, hiếm hoặc vận chuyển buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó nhưng lại không quy định xử lý hành vi tàng trữ các bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó là không phù hợp vì trước khi vận chuyển bao giờ cũng phải có hành vi tàng trữ. Nếu họ không vận chuyển, buôn bán mà chỉ tàng trữ thì xử lý thế nào?

- Hiện tại Luật vẫn ban hành một loạt các văn bản cho phép gây nuôi các loại động vật hoang dã quý, hiếm nhưng chế tài quản lý kinh doanh thương mại các loại động vật hoang dã quý hiếm gây nuôi lại không cụ thể, rõ ràng, do đó đã tạo sơ hở để các đối tượng lợi dụng hợp pháp hóa nguồn gốc các loài động vật hoang dã mà chúng mua gom trái phép để kinh doang buôn bán.

- Việc quy định quy đổi về định lượng theo giá trị tiền đối với vận chuyển, buôn bán các sản phẩm của động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1B có giá trị đến 50.000.000đ làm yếu tố định tội theo chúng tôi cũng chưa phù hợp. Vì động vật thuộc nhóm IB là loài nguy cấp quý hiếm, để có được sản phẩm của nó thì đương nhiên loài động vật đó đã bị giết mổ do vậy không cần quy định định lượng mà nên coi là một cá thể theo phụ lục của Nghị định 32/2006 ngày 30/3/2006 của Chính phủ để xử lý về hình sự.

- Việc quy định tại khoản 2 Điều 190 săn bắt vào thời gian bị cấm là tình tiết định khung hình phạt. Mà theo như hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 19 ngày 08/03/2007 thì thời gian bị cấm tức là săn bắt động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vào mùa sinh sản hoặc vào mùa di cư của chúng. Song hiện nay, cũng không có văn bản nào hướng dẫn hoặc quy định về mùa sinh sản của các loài do vậy rất khó xử lý với các vi phạm xảy ra.

- Việc phối hợp thực thi pháp luật hiện nay chưa thực sự nhịp nhàng, các lực lượng Hải quan, Kiểm lâm tham gia chưa thực sự hiệu quả đôi khi còn khoán trắng cho lực lượng Công an, nhận thức của một số cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật còn chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã quý, hiếm…

Một số kiến nghị:

Qua thực tiễn xử lý các vụ vi phạm cũng như qua lời khai của các đối tượng vi phạm các quy định bảo vệ động vật hoang dã quý, hiếm thì thấy: Trong số các loại hàng hóa buôn lậu, giá trị các loài động, thực vật hoang dã buôn bán bất hợp pháp thuộc loại cao nhất có thể chỉ sau ma túy

Ví dụ: Như ngày 26/7/2011, lực lượng chức năng bắt giữ và áp tải một xe hàng vận chuyển động vật hoang dã Quảng Ninh về Hà Nội với số lượng bao gồm 2.100 con rắn ráo trâu với trọng lượng khoảng 2.024kg với các chủng loại rùa là 524 con trọng lượng 770kg tổng giá trị lô hàng khoảng 70.000USD, theo chủ hàng khai chỉ phải mua với giá 15.000 USD… Để ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả đối với các hành vi vi phạm các quy định bảo vệ động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm chúng tôi kiến nghị một số vấn đề sau:

- Cần nâng mức hình phạt quy định tại Điều 190 BLHS, vì với mức hình phạt cao nhất là bảy năm tù là chưa đủ sức răn đe đối với các đối tượng vi phạm các quy định tại Điều 190 BLHS.

- Cần có các lớp tập huấn cho các cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài động vật hoang dã quý, hiếm.

- Cần có những văn bản hướng dẫn tạo sự thống nhất trong việc xử lý các vi phạm quy định tại Điều 190 BLHS giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan hữu quan.

- Không nên quy định giá trị tiền đối với các loài động vật hoang dã cũng như sản phẩm của chúng mà chỉ quy định theo hình thức cá thể, vì nhiều loài có giá trị rất lớn đối với bảo tồn nhưng lại có giá rất rẻ trong buôn bán.

- Cần có các tiêu chí và khái niệm rõ ràng về các loài quý, hiếm, cũng như có định nghĩa cụ thể thế nào là quý, thế nào là hiếm, vì thực tế có loài quý nhưng không hiếm, ngược lại có loài hiếm nhưng không quý…

- Không cấp giấy phép cho phép gây nuôi các loại động vật hoang dã quý, hiếm tránh việc tạo sơ hở để các đối tượng lợi dụng hợp pháp hóa nguồn gốc các loài động vật hoang dã mà chúng mua gom trái phép để kinh doanh buôn bán. Bởi lẽ, việc chấp nhận cấp phép cho các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã nguy cấp, hoặc thuộc nhóm 1B của nghị định 32 theo công văn số 970/BNN-KL có thể coi như “bản án tử hình” đối với các loài này. Điều này có nghĩa là sở hữu các loài ĐVHD cực kỳ nguy cấp và được bảo vệ không phải là một loại hình tội phạm. Câu hỏi đặt ra ở đây là để có thể sở hữu một cá thể động vật hoang dã tại tư gia thì cá nhân đó phải làm những gì trước đó? Chắc chắn là phải tham gia ít nhất vào một trong các khâu săn bắn, vận chuyển, buôn bán ĐVHD – hành vi được coi là TPMT. Đây có phải là điều mâu thuẫn?

- Cần có sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa lực lượng Công an với lực lượng Hải quan, Kiểm lâm. Bởi lẽ, khi mà các lực lượng này chưa thể gắn kết chặt chẽ với nhau, thì nạn săn, bắt, vận chuyển, mua bán động vật hoang dã quý, hiếm chưa thể ngăn chặn triệt để được.

                                                                 TS: Phạm Minh Tuyên - PCA TAND Bắc Ninh

 
 
gioi thieu web download co the down phan mem download ban hay xem bang sop thi down download sopcast xem bong da sopcast, download ultrasurf phan mem vao facebook ultrasurf, download hotspot shield vao facebook shield voi hotspot ban co the vao