Thứ Năm, 24/8/2017
Không có lịch xét xử trong ngày hôm nay


Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm .

06/7/2017 22:28

Bài viết chuyên môn của Thư ký Nguyễn Xuân Bình.

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 thay thế cho Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. BLTTDS 2015 được ban hành dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của BLTTDS 2004; bên cạnh đó BLTTDS 2015 ghi nhận nhiều quy định mới lần đầu được quy định theo hướng bảo đảm tính công khai minh bạch trong tố tụng, bảo đảm quyền tranh tụng, mở rộng thẩm quyền xét xử, nâng cao vị trí của Tòa án trong công cuộc cải cách tư pháp. Việc nghiên cứu, phân tích những quy định mới, những quy định được sửa đổi, bổ sung của BLTTDS 2015 là cần thiết có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn xét xử góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bài viết dưới đây xin đi phân tích những điểm mới quan trọng của BLTTDS 2015 trong phần “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm”.

1.  Quy định chung về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một trong 04 quyết định mà khi rơi vào các trường hợp luật định, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự phải ra trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Điều 217 BLTTDS 2015: “1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

a) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

b) Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

c) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

3. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.

4. Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.  

Mặc dù BLTTDS không có điều luật riêng quy định chi tiết, giải thích về khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nhưng quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn có thể hiểu: “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định chấm dứt (hay ngừng) hoàn toàn việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự”.

2. Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Sau khi thụ lý vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi phát sinh một trong các trường hợp cụ thể sau:

- Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế: Trường hợp “Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 được hiểu: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ tố tụng gắn liền với quyền nhân thân của họ theo quy định của pháp luật không được chuyển giao lại cho những người thừa kế, khi đó chủ thể tham gia tố tụng không còn tồn tại và Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Do những quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao lại cho người khác nên khi nguyên đơn hoặc bị đơn tham gia tố tụng trong vụ án dân sự liên quan đến quyền nhân thân là cá nhân đã chết thì dù có người thuộc các hàng thừa kế nhưng những người này cũng không được kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, trong trường hợp này Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Ví dụ một số loại tranh chấp dân sự mà quyền và nghĩa vụ của đương sự  gắn liền với quyền nhân thân như: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ …..

Một điểm đáng lưu ý là điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS chỉ được áp dụng khi giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyền nhân thân còn các vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyền tài sản (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt, quyền khác đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt) mà xảy ra trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết thì Tòa án không được áp dụng điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án.

Ví dụ một số loại tranh chấp dân sự mà quyền và nghĩa vụ của đương sự  gắn liền với quyền tài sản như: Kiện đòi tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng vay tài sản……

Đối với trường hợp khi giải quyết vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyền tài sản mà nguyên đơn (hoặc bị đơn) là cá nhân chết và cá nhân này không có người thừa kế tức là không có một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết ), không có một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ hai (gồm  ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại) và cũng không có một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ ba (gồm cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại); hoặc có những người thừa kế nhưng những người thừa kế thuộc trường hợp người không được quyền hưởng di sản thừa kế (bị tước quyền thừa kế) theo quy định tại Điều 621 BLDS 2015 (gồm: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản) hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản thừa kế (Điều 620 BLDS 2015). Khi xảy ra trường hợp trên, Tòa án không được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS với lý do không có, không xác định được ai là người kế thừa quyền và nghĩa vụ cho nguyên đơn (hoặc bị đơn) đã chết theo quy định tại Điều 74 BLTTDS, trong trường hợp này Tòa án vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ án bởi khi giải quyết vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyền tài sản mà nguyên đơn (hoặc bị đơn) là cá nhân chết và cá nhân này không có người thừa kế, hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì căn cứ theo Điều 622 BLDS 2015 thì di sản thừa kế thuộc về nhà nước; và trường hợp này Tòa án phải đưa Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tùy từng loại di sản thừa kế cụ thể mà Nhà nước ở đây chính là các cơ quan nhà nước trung ương, địa phương có liên quan sẽ cử đại diện trực tiếp tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn (hoặc bị đơn) đã chết.

Ví dụ: A (nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc B (bị đơn) phải trả lại cho mình quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà B đang sử dụng trái phép. Quá trình giải quyết vụ án, A chết. Tòa án tiến hành xác minh và xác định A không có người thừa kế (không có người thừa kế ở các hàng thừa kế). Theo quy định tại Điều 622 BLDS 2015 thì di sản thừa kế thuộc về Nhà nước. Trong trường hợp này, Tòa án có thể đưa UBND huyện nơi có thửa đất đang tranh chấp vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng cho nguyên đơn trong vụ án.

- Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó: Trong quá trình giải quyết vụ án mà một trong bên đương sự là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc phá sản thì sẽ làm chấm dứt tư cách pháp lý, chấm dứt mọi hoạt động trên thực tế và chấm dứt quyền, nghĩa vụ của của cơ quan, tổ chức đó. Tùy từng cơ quan, tổ chức mà trình tự thủ tục giải thể, phá sản được quy định riêng biệt trong pháp luật chuyên ngành (VD: Luật doanh nghiệp quy định trình tự giải thể đối với các doanh nghiệp bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; Nghị định số 55/2012/NĐ-CP nghị định Chính phủ ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; Luật phá sản năm 2014 quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định tuyên bố phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã……). Khi cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản, nếu không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan, tổ chức này để tiếp tục quá trình tố tụng thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự.

- Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan: Đây là một trường hợp được gộp từ điểm c và điểm e của Điều 192 BLTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) theo đó được chia làm hai trường hợp nhỏ sau:

Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Xuyên suốt các quy định của BLTTDS 2015 về quyền rút yêu cầu khởi kiện được xác định là quyền đặc trưng, gắn liền với chủ thể tham gia tố tụng là nguyên đơn, cụ thể: khoản 2 Điều 71 BLTTDS 2015 quy định nguyên đơn có quyền quyền thay đổi nội dung khởi kiện, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; tuy nhiên điểm c khoản 1 Điều 217  lại quy định chủ thể là “người khởi kiện” có quyền rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là chủ thể người khởi kiện có đồng nhất với chủ thể là nguyên đơn hay không?

Người khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” và Điều 187 BLTTDS 2015: “1. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.

3. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật.

5. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

Nguyên đơn được xác định theo khoản 2 Điều 68 BLTTDS: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”.

Như vậy, nguyên đơn có thể là người khởi kiện và cũng có thể là người không khởi kiện nhưng được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Việc quy định người khởi kiện có quyền rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 thiết nghĩ sẽ gây nhầm lẫn, áp dụng không chính xác giữa các quy định trong pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp thứ hai mà Tòa án được áp dụng để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 là: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan” nội dung của trường hợp này là tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập lần thứ hai cho nguyên đơn mà nguyên đơn vẫn vắng mặt (không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan) thì bị coi là từ bỏ quyền khởi kiện và Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Theo nội dung của quy định sử dụng cụm từ “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt” làm căn cứ để đình chỉ đồng nghĩa là tòa án phải gửi giấy triệu tập hợp lệ và nguyên đơn phải vắng mặt hai lần thì mới được phép đình chỉ.

Ví dụ: Phiên tòa lần 01 được diễn ra vào ngày 15/8/2016, tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho nguyên đơn, bị đơn trong vụ án. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa.

Phiên tòa lần 02 được diễn ra vào ngày 15/9/2016, tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho nguyên đơn, bị đơn trong vụ án. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, bị đơn có mặt. Theo quy định tại Điều 217 thì Tòa án không được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì nguyên đơn mới vắng mặt 01 lần và Tòa án phải tiếp tục hoãn phiên tòa, phiên tòa phải được mở lại lần 03 và nếu lần này nguyên đơn vắng mặt (không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan) thì mới được đình chỉ giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, nội dung quy định này là mâu thuẫn với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 BLTTDS: “2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;”.

Tại Điều 277 BLTTDS không sử dụng cụm từ “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt” mà lại sử dụng cụm từ “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai” làm căn cứ để Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự điều đó đồng nghĩa chỉ cần Tòa án triệu tập hợp lệ lần 02 mà nguyên đơn vắng mặt không phân biệt là lần 01 có vắng mặt hay không thì tòa án đều ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Thực tiễn xét xử, các tòa án đều áp dụng theo cách hiểu tại Điều 277 BLTTDS 2015.

Ví dụ: Phiên tòa lần 01 được diễn ra vào ngày 15/8/2016, tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho nguyên đơn, bị đơn trong vụ án. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa.

Phiên tòa lần 02 được diễn ra vào ngày 15/9/2016, tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho nguyên đơn, bị đơn trong vụ án. Tại phiên tòa, bị đơn có mặt, nguyên đơn vắng mặt (không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan).

-  Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó: Trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS được cụ thể hóa nội dung của pháp luật chuyên ngành luật phá sản năm 2014. Nội dung này được quy định tại Điều 41, 71, 72 Luật phá sản năm 2014, theo đó: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản, Tòa án nhân dân đang giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, tổ hợp tác, phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự (theo điểm g khoản 1 Điều 214 BLTTDS). Sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án nhân dân đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết.

-  Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định: Đây là một điểm mới quan trọng, cụ thể hóa một trong những nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng quy định tại khoản 2 Điều 70 BLTTDS: “Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật”. Nguyên đơn là người chủ động khởi kiện, chủ động yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Tránh trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức lạm dụng quyền khởi kiện, pháp luật tố tụng dân sự quy định khi đưa ra yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn phải nộp một khoản tạm ứng án phí dân sự, biên lai nộp tiền tạm ứng án phí là căn cứ để Tòa án tiến hành thụ lý một vụ án dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, trong những trường hợp luật định, Tòa án áp dụng biện pháp ra quyết định định giá tài sản, thành lập hội đồng định giá để có thể thu thập tài liệu chứng cứ, nhằm có căn cứ giải quyết vụ án. Theo quy định tại Điều 164 BLTTDS thì về nguyên tắc, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản được xác định: “1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.

2. Trường hợp các bên đương sự không thống nhất được về giá và cùng yêu cầu Tòa án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Trường hợp có nhiều đương sự, thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức mà Tòa án quyết định.

3. Đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này thì nguyên đơn, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản”. Khi nguyên đơn thuộc trường hợp có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí chi phí định giá tài sản mà nguyên đơn không nộp thì nguyên đơn sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý là Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và không xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nữa. Việc bổ sung trường hợp này là cần thiết khắc phục hạn chế của BLTTDS 2004 khi không quy định hậu quả pháp lý này khiến các Tòa án lúng túng không biết giải quyết thế nào. Tương tự như vậy, trong trường hợp  bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác trong những trường hợp luật định thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quy định này hoàn toàn phù hợp bởi khi bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì họ đều có quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn đối với yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của mình.

- Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết: Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Theo quy định tại Điều 150 BLDS 2015 thì có 04 loại thời hiệu: Thời hiệu hưởng quyền dân sự; Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; Thời hiệu khởi kiện; Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Một trong những điểm mới quan trọng của BLDS 2015 và BLTTDS 2015 là Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Như vậy, khi một bên hoặc các bên (đương sự) tham gia tố tụng yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu để giải quyết vụ án đang tranh chấp thì Tòa án mới áp dụng quy định về thời hiệu. Kể từ ngày 01/01/2017, một quan hệ pháp luật dân sự đã hết thời hiệu theo luật định, khi xảy ra tranh chấp và khởi kiện ra Tòa án, nhưng các bên đương sự không ai có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu thì Tòa án vẫn sẽ tiến hành thụ lý giải quyết vụ án bình thường; trước thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án sơ thẩm, hoặc quyết định giải quyết vụ án mà có đương sự có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án sẽ căn cứ theo điểm e khoản 1 Điều 217 ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Để áp dụng đúng, chính xác theo đúng tinh thần nội dung của điều luật, khi áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 Tòa án cần nắm rõ các điểm sau:

Trường hợp áp dụng: Đối với vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện.

Loại thời hiệu yêu cầu áp dụng: Khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện.

 Thời điểm đưa ra yêu cầu: Tại cấp sơ thẩm, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án (VD: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự)

Ví dụ: Vụ án tranh chấp về thừa kế đã hết thời hiệu khởi kiện, khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án có thẩm quyền tiến hành thụ lý và thực hiện các công việc giải quyết vụ án bình thường. Trong quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm Tòa án ra bản án, quyết định giải quyết vụ án thì nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện. Khi có yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 mà Tòa án đã tiến hành thụ lý giải quyết vụ án: Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định: “a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

d) Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;

đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện”.

Khi một trong các trường hợp trên xảy ra trong giai đoạn trước khi thụ lý giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện. Sau khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án mà xảy ra, phát hiện một trong các trường hợp trên thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

- Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định: BLTTDS 2015 đã có quy định mở, mang tính dự báo nhằm tạo cơ sở pháp lý, căn cứ vững chắc cho Tòa án áp dụng pháp luật ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong BLTTDS chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3. Thẩm quyền, thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

3.1. Thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 219 BLTTDS 2015 thì thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm được xác định như sau:

- Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Mặc dù không hề có quy định trực tiếp giải thích thời điểm trước khi mở phiên tòa thời điểm nào trong các giai đoạn giải quyết vụ án dân sự; liên hệ quy định tương tự tại khoản 2 Điều 289 BLTTDS 2015 về thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án: “Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm”; thực tiễn xét xử của các Tòa án cũng áp dụng thống nhất thời điểm trước khi mở phiên tòa có thể hiểu là thời điểm trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.

- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tại phiên tòa được hiểu kể từ sau khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thuộc về Hội đồng xét xử và phải được giải quyết ở tại phiên tòa.

3.2. Thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu; Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

- Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Trong trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015 đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì thủ tục để Tòa án ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án là: Ngoài nội dung như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm thông thường, Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là một quy định hoàn toàn mới của BLTTDS 2015 so với BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); quá trình nghiên cứu nội dung điều luật tác giả thấy có một số ý kiến trao đổi như sau:

Thứ nhất: Về trường hợp áp dụng: Theo nội dung điều luật, thì điều luật được áp dụng đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm (áp dụng khoản 3 Điều 343 BLTTDS Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm) hoặc quyết định tái thẩm (áp dụng khoản 3 Điều 356 BLTTDS Hội đồng xét xử tái thẩm ra quyết định Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật này quy định) và xuất hiện căn cứ đình chỉ tại khoản 1 Điều 217 BLTTDS Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án phải đồng thời giải quyết hậu quả của việc thi hành án và các vấn đề khác có liên quan (nếu có). Nội dung quy định là hoàn toàn khả thi bởi về nguyên tắc sau khi xét xử và tuyên bản án sơ thẩm thì bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay chỉ đến khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định thì bản án sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật; còn đối với bản án phúc thẩm sau khi tuyên bản án có hiệu lực pháp luật ngay và được thi hành theo nội dung bản án phúc thẩm. Bởi lý do trên mà các nhà làm luật xây dựng quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS chỉ áp dụng trong trường hợp sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm vì bản án sơ thẩm hoặc bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành nên khi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm mà xuất hiện căn cứ đình chỉ thì trong quyết định đình chỉ Tòa án phải giải quyết phần hậu quả của việc thi hành bản án sơ thẩm hoặc bản án phúc thẩm đã bị hủy trước đó. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là trong trường hợp giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm lần một, bản án sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 482 BLTTDS (Khoản 2 Điều 482 BLTTDS quy định: “2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị:

a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công;

b) Quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” khi bản án sơ thẩm này có kháng cáo, kháng nghị và cấp phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 BLTTDS Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Quá trình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm xuất hiện căn cứ đình chỉ tại khoản 1 Điều 217 BLTTDS thì trong nội dung quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án có được áp dụng tương tự theo đúng tinh thần, nội dung khoản 4 Điều 217 BLTTDS để quyết định luôn phần hậu quả của việc thi hành án và các vấn đề khác có liên quan (nếu có) hay không? Vấn đề này rất cần có sự hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao để quá trình áp dụng pháp luật giữa các Tòa án khi gặp trường hợp trên được thống nhất.

Thứ hai: Xác định, giải quyết hậu quả của việc thi hành án, tính án phí: Do bản chất của vụ án dân sự là việc phát sinh tranh chấp giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Bản án giải quyết tranh chấp dân sự đã có hiệu lực và được thi hành đồng nghĩa với việc có bên thắng kiện, bên thua kiện; bên thua kiện sẽ phải gánh chịu, thực hiện những nghĩa vụ, thiệt hại theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật. Khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án đã có hiệu lực và được thi hành đồng nghĩa những nội dung quyết định của bản án bị hủy trên sẽ không có giá trị pháp lý rằng buộc các bên phải thực hiện. Quá trình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm mà phát sinh căn cứ đình chỉ thì Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của phần đã được thi hành án trong bản án đã được thi hành và bị hủy. Việc giải quyết hậu quả của việc thi hành án trong thực tiễn không hề đơn giản; do đây là quy định mới nên hiện nay chưa hề có quy định trực tiếp điều chỉnh trường hợp này, theo quan điểm cá nhân của tác giả kể từ ngày 01/7/2016 (BLTTDS 2015 có hiệu lực pháp luật) quá trình chờ hướng dẫn thi hành mà quá trình giải quyết vụ án rơi vào trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS thì khi giải quyết hậu quả của việc thi hành án, Tòa án có thể thực hiện tương tự theo tinh thần nội dung điều luật quy định tại khoản 2 Điều 136, khoản 3 Điều 135 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong bản án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì việc giải quyết hậu quả của việc đã thi hành án được thực hiện như sau:

- Trường hợp tài sản đã thi hành án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì trong phần giải quyết hậu quả việc thi hành án của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án sẽ quyết định buộc bên đã được nhận tài sản theo bản án đã bị hủy phải trả lại tài sản cho bên đã giao theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật bị hủy.

- Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì Tòa án sẽ quyết định người đã giao tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bên nhận tài sản bồi hoàn lại  giá trị của tài sản.

- Giải quyết án phí: Bản án dân sơ thẩm hoặc bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành, theo đó nguyên đơn khởi kiện thắng kiện; nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí và bị đơn phải chịu án phí dân sự. Bản án bị cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy và chuyển hồ sơ lại cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định. Quá trình giải quyết lại vụ án tại cấp sơ thẩm, xuất hiện căn cứ đình chỉ nguyên đơn đã được triệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS); theo quy định tại Điều 218 thì trong trường hợp này số tiền tạm ứng án phí sẽ được sung công quỹ nhà nước. Vấn đề hiện nay là tiền tạm ứng án phí được thi hành theo bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm bị hủy đã trả lại cho nguyên đơn. Vậy trong trường hợp này Tòa án phải xác định số tiền tạm ứng án phí dựa trên cơ sở nào và tuyên về phần án phí như thế nào theo đúng quy định của pháp luật?

Theo ý kiến cá nhân của tác giả trong trường hợp này Tòa án xác định số tiền tạm ứng án phí để sung công quỹ dựa trên biên lai thu tiền nộp tạm ứng án phí ban đầu của nguyên đơn. Trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án sẽ tuyên hoàn trả số tiền án phí tương ứng với số tiền mà bị đơn đã nộp theo quyết định thi hành án; và tuyên buộc nguyên đơn phải nộp số tiền tương ứng với số tiền tạm ứng án phí ban đầu để sung công quỹ nhà nước.

Có ý kiến cho rằng, trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nên quyết định bị đơn chịu tiền tạm ứng án phí để sung công quỹ nhà nước và nguyên đơn có nghĩa vụ hoàn trả bị đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp. Ý kiến này là không chính xác bởi liên quan đến vấn đề án phí là mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước (cơ quan thi hành án) với đương sự chứ không thể là mối quan hệ giữa đương sự với đương sự được việc quyết định như trên chỉ thuận tiện cho cơ quan thi hành án trong việc đảm bảo thi hành án, nhưng lại gây bất tiện, phiền hà, tốn kém cho phía bị đơn khi lại phải “chạy” theo phía nguyên đơn để yêu cầu hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp, việc giải quyết như vậy sẽ xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích chính đáng của bị đơn.

Ví dụ: Trong vụ án Kiện đòi tài sản giữa anh Lê Quý D (nguyên đơn) với bà Đào Phương Nh (bị đơn). Cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm đều tuyên buộc bà Nh phải trả cho anh D 260.000.000 đồng; về án phí sơ thẩm bà Nh phải nộp số chịu số tiền 13.000.000 đồng, hoàn trả anh D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.500.000 đồng. Sau khi án phúc thẩm tuyên và được thi hành (bà Nh đã trả anh D số tiền 260.000.000 đồng và nộp án phí tại cơ quan thi hành án số tiền 13.000.000 đồng). Bản án đã bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Bản án giám đốc thẩm đã tuyên hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và bản án sơ thảm, giao hồ sơ lại cho tòa án sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật. Khi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ 02 lần mà nguyên đơn vắng mặt, Tòa án đã tiến hành ý kiến của bị đơn về việc nguyên đơn vắng mặt; bị đơn đề nghị Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, phần giải quyết hậu quả của việc thi hành án; Tòa án cần buộc phía nguyên đơn là anh D phải trả lại 260.000.000 đồng cho phía bị đơn là bà Nh; hoàn trả bà Nh số tiền 13.000.000 đồng tiền án phí đã nộp; anh D phải nộp số tiền 6.500.000 đồng để sung quỹ nhà nước.  

Thứ ba: Về mẫu ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án: Bản chất của việc đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án quyết định chấm dứt (hay ngừng) hoàn toàn việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ được quy định trong BLTTDS như vậy nội dung bao hàm quan trọng nhất trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chính là quyết định về tố tụng, chấm dứt mọi hoạt động tố tụng liên quan đến vụ án. Tại phần 2 của Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo mẫu số 11a ban hành kèm theo kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và gần đây Tòa án nhân dân tối cao có công bố lấy ý kiến dự thảo Mẫu ban hành các quyết định trong tố tụng dân sự, tại mẫu số 43 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vẫn giữ nguyên nội dung tại phần 2 (9) hướng dẫn: “Tuỳ vào từng trường hợp đình chỉ vụ án cụ thể mà ghi hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự, (kể cả về tiền tạm ứng án phí)”. Như vậy, trong cả 02 mẫu quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đều chỉ được sử dụng trong các trường hợp ra quyết định theo thủ tục sơ thẩm thông thường, trong trường hợp áp dụng khoản 4 Điều 217 BLTTDS thì không đầy đủ. Thiết nghĩ cần bổ sung thêm trong mẫu quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phần về giải quyết hậu quả của việc thi hành án (nếu có) để có thể sử dụng được cả trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015.

4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Quyền khởi kiện lại vụ án: Khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có hiệu lực pháp luật, các đương sự không thể khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án một lần nữa nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 218 BLTTDS cũng quy định một số ngoại lệ theo đó các đương sự vẫn có thể khởi kiện lại một vụ án mới mặc dù trước đó đã bị đình chỉ giải quyết vụ án. Đó là các trường hợp:

- Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

- Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

- Đã có đủ điều kiện khởi kiện;

- Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.

Xử lý tiền tạm ứng án phí: Việc xử lý tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp theo quy định tại BLTTDS 2015 có nội dung như sau:

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp: nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế (điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS); Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó (điểm b khoản 1 Điều 217 BLTTDS) hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp: Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện (điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS); Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định; Bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của BLTTDS thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết; Các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS mà Tòa án đã thụ lý; thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Cụ thể, khoản 2 Điều 273 BLTTDS, thời hạn kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của BLTTDS ; khoản 2 Điều 280 BLTTDS quy định thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định. Khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định nếu không bị kháng cáo, kháng nghị thì quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó có hiệu lực pháp luật và làm chấm dứt tư cách tố tụng, dừng hoạt động tố tụng trong vụ án.

Chế định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm là một chế định quan trọng được quy định trong BLTTDS, để việc hiểu, vận dụng được thống nhất chính xác trong thời gian tới rất mong Tòa án nhân dân tối cao có những hướng dẫn cụ thể về những điểm mới của BLTTDS 2015 nói chung và trong phần đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm nói riêng.

Nguyễn Xuân Bình

CÁC TIN KHÁC