Chủ nhật, 25/6/2017
Không có lịch xét xử trong ngày hôm nay


Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung phần chung Bộ luật hình sự năm 1999

25/6/2014 10:26

Do ban hành từ năm 1999, mặc dù có được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2009, chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần phải nghiên cứu sửa đổi nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

 

I. Đặt vấn đề:

Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000. Sau hơn 10 năm được áp dụng, BLHS năm 1999 đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm; tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay BLHS hiện hành cũng bộc lộ rõ nhiều điểm bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung; nhiều quy định của Bộ luật chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và trong bối cảnh hội nhập quốc tế… Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện, BLHS 1999 đã bộc lộ những hạn chế như có những điều khoản không còn phù hợp với thực tế khách quan; một số hành vi có tính chất mức độ nguy hiểm cao cho xã hội nhưng không được quy định là tội phạm trong BLHS (như tội phạm về môi trường, chứng khoán, tài chính – ngân hàng, sở hữu trí tuệ…), chưa có sự phù hợp với các Điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết hoặc tham gia. Để khắc phục những hạn chế này, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999 (Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009). Các quy định của BLHS sửa đổi đã đi vào cuộc sống, định lượng về số tiền trong các tội phạm đã được sửa đổi phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội; các tội phạm liên quan đến sở hữu trí tuệ, môi trường, chứng khoán… đã được quy định, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Trong những năm qua, với tư cách là một công cụ sắc bén để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể và của cá nhân, pháp luật hình sự là một nội dung quan trọng trong chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, do ban hành từ năm 1999, mặc dù có được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2009, song BLHS vẫn chưa  thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” mà trong đó, một trong những nội dung quan trọng theo yêu cầu cải cách tư pháp là: "Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng hình sự, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hoá quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm. Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế".

Trên tinh thần cải cách tư pháp nêu trên, có thể nói rằng quan điểm của Đảng về sự cần thiết phải sửa đổi BLHS là xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các mối quan hệ đối nội và đối ngoại, xu thế quốc tế hóa khu vực và toàn cầu, qua đó nhằm bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Theo quan điểm này của Đảng, chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần phải nghiên cứu sửa đổi một cách toàn diện các quy định của BLHS năm 1999 nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Với những lý do trên, thông qua thực tiễn công tác xét xử chúng tôi mạnh dạn nêu nên những vướng mắc, bất cập hiện nay của BLHS năm 1999 và hướng sửa đổi một số điều tại phần chung của BLHS năm 1999.

II. Những vướng mắc,  bất cập hiện nay của Bộ luật hình sự năm 1999

1. Những  khó khăn, vướng mắc từ các quy định của phần chung Bộ luật hình sự

 

Liên quan đến những quy định tại phần chung của BLHS năm 1999, qua thực tiễn xét xử chúng tôi thấy có những vướng mắc bất cập như sau:

Thứ nhất: Tại phần chung của BLHS năm 1999 có một số điều luật quy định nêu khái niệm về các chế định như Điều 9 “Cố ý phạm tội”;  Điều 10 “Vô ý phạm tội”; các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự như: Điều 11 “Sự kiện bất ngờ”; Điều 12 “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự”;Điều 13 “Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự”; Điều 15 “Phòng vệ chính đáng”;Điều 16 “Tình thế cấp thiết”… Tuy nhiên, trong phần chung của BLHS lại không có điều luật nêu khái niệm về “Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân”. Trong khi đó, tại phần các tội phạm cụ thể lại có một số điều luật quy định về tội phạm liên quan đến thuật ngữ này như: Điều 95 “Tội giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh”; Điều 105 “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.

Mặc dù trong cấu thành cơ bản của hai điều luật trên đều có cụm từ “… tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân…” song thế nào là “Tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân” thì hiện có nhiều cách hiểu và đánh giá khác nhau, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong trường hợp này không thống nhất. Hiện cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này như:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng (tâm lý) không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình.

Quan điểm thứ hai là: Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng ý thức bị hạn chế ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm,dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi.

Quan điểm thứ ba là: Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái của một người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức.

Còn theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 thì: “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn đến hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỉ kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kìm chế được, nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh.

Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, nhưng nói chung chưa đến mức là tội phạm. Nếu hành vi trái pháp luật đó trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội hoặc của xã hội, đã cấu thành tội phạm, thì hành vi chống trả lại gây chết người có thể được xem xét là trường hợp phòng vệ chính đáng (theo Điều 13) hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (theo Điều 102)…”

         Như đã nêu, vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán cũng đã có hướng dẫn và giải thích tương đối đầy đủ. Song trong thực tiễn áp dụng vẫn có những quan điểm khác nhau như khái niệm “người thân thích” được hiểu thế nào? Có phải chỉ là vợ, chồng, cha mẹ, anh chị em ruột và những người họ hàng cùng huyết thống hay là cả những người bạn thân? Thế nào là “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”? Thế nào là “hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân”? Hiện vẫn chưa có cách hiểu thống nhất. Do vậy, rất cần một điều luật quy định nêu rõ về khái niệm như thế nào là “Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội” để việc áp dụng tình tiết này trong việc định tội danh được thống nhất.

         Thứ hai: Về Điều 43 “Bắt buộc chữa bệnh” và Điều 44 “Thời gian bắt buộc chữa bệnh”.

         Theo quy định tại Điều 43 “Bắt buộc chữa bệnh” thì nội dung của điều luật được hiểu như sau:

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Trường hợp này, căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, tùy theo giai đoạn tố tụng mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh; nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

2. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đã lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự trước khi bị kết án. Trong trường hợp này, căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự;

3. Người đang chấp hành hình phạt mà lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Trường hợp này, căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt.

Nếu có kết luận của cơ sở điều trị về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh thì tùy vào từng giai đoạn tố tụng Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Theo chúng tôi tại khoản 1 Điều 43 có quy định “nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”  là không phù hợp và dẫn đến rất nhiều trường hợp giả bệnh để được ở nhà, hoặc trường hợp nào là không cần thiết để có thể được điều trị tại nhà? Việc giám sát của “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền” là Cơ quan nào và cơ chế giám sát ra sao? Đây chính là sự vướng mắc và bất cập cần phải có quy định rõ.

Tại Điều 44 quy định về thời gian bắt buộc chữa bệnh có ghi “thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”. Về vấn đề này hiện có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong bất cứ giai đoạn nào, người phạm tội bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì thời hạn bắt buộc chữa bệnh phải được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Chỉ trong trường hợp người phạm tội đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì mới được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù còn trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì không được tính trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Theo chúng tôi, vấn đề này cần được ghi rõ trong phần chung của BLHS vì ghi như Điều 44 hiện hành là không rõ nghĩa và có những cách hiểu khác nhau. Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai. Bởi lẽ, trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nếu họ có mắc bệnh mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì việc chữa bệnh là đương nhiên, việc Cơ quan pháp luật áp dụng biện pháp này cũng nhằm mục đích phòng, tránh họ gây ra những hành vi nguy hiểm khác cho xã hội, hơn nữa khi đó họ chưa bị kết án nên chưa phải là người phải chấp hành hình phạt tù. Do vậy, chỉ khi nào họ đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bị tạm giam hoặc đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình và phải bắt buộc chữa bệnh, thì thời gian bắt buộc chữa bệnh mới được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Nếu áp dụng quy định như hiện nay sẽ dễ dẫn đến những trường hợp người phạm tội chữa bệnh tại nhà cũng vẫn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Điều này không công bằng và không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Thứ ba: Những vướng mắc khi áp dụng các quy định  tại Điều 47 BLHS

Theo quy định tại Điều 47 BLHS thì “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Để áp dụng một cách thống nhất và tránh việc áp dụng một cách tràn lan Điều 47 BLHS, NQ số 01/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn “…Cần hạn chế và phải hết sức chặt chẽ khi áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999, trong trường hợp nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS năm 1999, thì bị cáo phải bị xử phạt ở mức cao của khung hình phạt…” và cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01 nêu trên thì những quy định tại Điều 47 chỉ áp dụng đối với hình phạt chính mà không áp dụng đối với hình phạt bổ sung.

Tại Công văn số 148/2002/KHXX ngày 30/9/2002 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 46 và 47 BLHS có ghi “theo tinh thần quy định tại Điều 47 BLHS, thì Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt nhẹ hơn dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định từ khoản 1 Điều 46 BLHS. Như vậy, việc Tòa án nào hoặc Hội đồng xét xử nào quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, khi bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS (cho dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46) là trái với quy định tại Điều 47 BLHS…”.

Theo chúng tôi, việc điều luật quy định “khi ít nhất có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46” là quy định “quá cứng ”, khó cho việc áp dụng vì phạm vi áp dụng hẹp hơn nhiều so với quy định tại khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 và hướng dẫn tại mục B phần II Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc quy định như vậy, tuy mang tính chặt chẽ, tránh bị vận dụng tùy tiện, không thống nhất, đồng thời hình phạt được quyết định phải trong phạm vi “khung liền kề nhẹ hơn” - tức là, nếu từ khoản ba là hình phạt bị truy tố thì chỉ được giảm xuống mức hình phạt quy định tại khoản hai chứ không được áp dụng mức hình phạt quy định tại khoản một. Việc quy định như vậy là cần thiết. Song qua thực tiễn xét xử, chúng tôi thấy việc quy định như vậy cũng chưa bảo đảm nguyên tắc cụ thể hóa hành vi và cá thể hóa hình phạt, cũng như nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam. Trong nhiều vụ án đồng phạm, đông bị cáo, đặc biệt là các bị cáo phạm tội về ma túy mà cứ phải áp dụng đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì rất khó cho việc cụ thể hóa hành vi, cá thể hóa hình phạt, dẫn đến rất nhiều trường hợp “vượt rào” khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, bởi nếu không làm như vậy thì sẽ không bảo đảm nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt.

Thực tế xét xử có những vụ án, sau khi tuyên án bản thân Thẩm phán cũng thấy không an lòng vì không đảm bảo nguyên tắc nhân đạo trọng Luật hình sự Việt Nam.

Ví dụ: Vụ án cưỡng đoạt tài sản ở LT tỉnh BN: Trong vụ án này, vì vi phạm về thời gian được quy định trong hợp đồng, các bị cáo đã yêu cầu những người chủ lò gạch nộp tiền phạt. Tuy nhiên, do mức yêu cầu nộp phạt quá cao, các chủ lò gạch không đồng ý và bị người dân ở địa phương đe dọa sẽ phun nước dập tắt lò, dẫn đến những người chủ lò gạch này phải nộp cho thôn hơn 800 triệu đồng. Việc làm của các bị cáo rõ ràng là vi phạm pháp luật, cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản, song thực chất các bị cáo lại không có mục đích tư lợi và nếu số tiền đó có thu được thì cũng dùng vào mục đích công ích của thôn, vì khi thu tiền đều có phiếu thu của thôn. Sau khi có đơn tố cáo của các chủ lò gạch, vụ án được khởi tố và gần 10 người bị khởi tố bị can, bị đưa ra xét xử theo điểm a khoản 4 Điều 135 BLHS có khung hình phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm mặc dù trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn nhận tội và nộp lại toàn bộ số tiền đã thu của các chủ lò gạch. Các bị cáo đều là những nông dân ở một vùng quê nghèo, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hậu quả đã được khắc phục toàn bộ, chưa hề có vi phạm gì và đều ở độ tuổi từ 50 đến 60, xứng đáng được áp dụng Điều 47 BLHS để được hưởng mức án thấp hơn mức khởi điểm. Song do quy định tại Điều 47 là “…nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật, nên dù Tòa án cấp sơ thẩm vận dụng hết các tình tiết giảm nhẹ vẫn phải xử các bị cáo bảy năm tù là khởi điểm của khoản 3 Điều 135 BLHS. Sau khi tuyên án, có những bị cáo ngất ngay tại phiên tòa vì họ không nghĩ mức án lại cao như vậy. Bản thân Hội đồng xét xử phúc thẩm khi về xét xử phúc thẩm cũng thấy xót xa với mức hình phạt song cũng không thể giảm án được. Theo chúng tôi nếu không vì quy định bắt buộc “…phải trong khung liền kề nhẹ hơn…” thì có thể cho các bị cáo được hưởng án treo vẫn phù hợp với quy định tại Điều 45 và Điều 60 BLHS.

Trừ một số ít điều luật lại quy định khung hình phạt nặng nhất là khung 1 sau đó mới đến các khung có mức án nhẹ hơn như quy định tại các Điều về xâm phạm an ninh quốc gia (từ Điều 78 đến 92), tội giết người (Điều 93), tội khủng bố (Điều 230a), còn lại các điều luật khác đều có quy định theo mức độ hình phạt từ thấp đến cao theo thứ tự 1, 2, 3, 4. Theo cấu trúc này, chúng ta có thể hiểu khung liền kề nhẹ hơn của khoản bốn sẽ là khoản ba, của khoản ba sẽ là khoản hai và tiếp theo… Tuy nhiên, quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 tại một số điều như: Điều 111 tội“hiếp dâm”,  Điều 112 tội “hiếp dâm trẻ em”, Điều 113 tội “cưỡng dâm”, và Điều 227 tội “vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người”, Bộ luật hình sự lại có sự quy định khác về cấu trúc các khung hình phạt dẫn đến việc áp dụng Điều 47 sẽ gặp những vướng mắc cụ thể tại các điều luật này quy định như sau:

Ví dụ: Theo quy định tại Điều 112 thì khung hình phạt liền kề của khoản bốn là khoản ba, khung hình phạt liền kề của khoản ba là khoản hai, khung hình phạt liền kề của khoản hai là khoản một. Song quy định tại Điều 112 thì khung hình phạt quy định tại khoản 4 của điều luật, mức hình phạt khởi điểm lại thấp hơn mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 3 (mười hai năm so với hai mươi năm) và bằng với mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 2 của điều này cùng là 12 năm tù. Vì vậy, trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xứng đáng được áp dụng các quy định của Điều 47 thì việc xác định mức án trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn là rất khó khăn. Vì nếu áp dụng khung hình phạt liền kề tại khoản ba thì mức khởi điểm lại cao hơn khoản 4, nếu áp dụng theo mức hình phạt khởi điểm tại khoản 2 thì lại có mức hình phạt khởi điểm bằng nhau và như vậy việc áp dụng các quy định tại Điều 47 lại chẳng có ý nghĩa gì. Còn nếu coi khoản 1 là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn để áp dụng thì lại không đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự…

Thực tiễn xét xử hiện nay cho thấy, nhiều vụ án có liên quan đến lĩnh vực khác như hoàn thuế giá trị gia tăng; tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý; đưa hoặc nhận hối lộ… có bị cáo chỉ giữ vai trò giúp sức, không được hưởng lợi và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đáng được khoan hồng nhưng bị giới hạn của Điều 47 của BLHS nên phải chịu hình phạt nghiêm khắc quá mức, không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Do đó, có ý kiến cho rằng cần nghiên cứu, xem xét lại quy định tại Điều 47 của BLHS cho phù hợp với thực tiễn xét xử.

Thứ tư: Về vấn đề tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội và Điều 75 tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

Tại Điều 74 BLHS có quy định:

“1. Đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.

Tại Điều 75 BLHS quy định:

“Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt được áp dụng như sau:

1. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 của Bộ luật này;

2. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội”.

Thứ nhất: Đối với các quy định tại Điều 74 BLHS.

 Thực tế, tội phạm do người chưa thành niên phạm tội hiện nay không còn đơn giản làdo bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao. Số lượng các vụ án tăng nhanh, nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra. Cùng với tính chất phức tạp của mỗi vụ án là những thủ đoạn tinh vi, tính nguy hiểm ngày càng cao và để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm xôn xao dư luận xã hội. Các vụ án có bị cáo là người chưa thành niên phạm tội không chỉ tăng về số lượng các bị cáo, mà tuổi đời phạm tội của các bị cáo là người chưa thành niên cũng đã trẻ hoá, nhiều vụ án các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình như tội “Cố ý gây thương tích”, “Giết người”, “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản”.

Tuy ở độ tuổi còn rất trẻ, song hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm và quyết liệt, có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện với thủ đoạn tinh vi, xuống tay sát hại người khác một cách hết sức dã man. Do vậy, hậu quả để lại là rất nặng nề, gây bức xúc trong nhân dân và gây dư luận xấu trong xã hội.

Trong thời gian vừa qua, dư luận rất bất bình với những hành vi giết người không ghê tay của những đối tượng Lê Văn Luyện, Lê Ngọc Chung. Cả hai đối tượng này đều gây ra hai vụ thảm sát giết nhiều người và phạm một lúc cả hai tội là giết người và cướp tài sản, trong đó hành vi giết người của chúng đều đáng bị xử với mức án cao nhất là đến tử hình song chúng chỉ phải chịu mức án cao nhất là mười tám năm tù vì lý do chúng đều chưa đủ 18 tuổi. Hay vụ Nguyễn Văn Ngọc ở Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh đã có hành vi giết người cướp xe máy song cũng chỉ xử bị cáo 12 năm tù vì khi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi. Do đó, theo quy định tại Điều 74, 75 BLHS thì đây lại là mức án cao nhất đối với người chưa thành niên.

Theo chúng tôi, quy định về việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội theo Điều 74 BLHS và tổng hợp hình phạt theo Điều 75 BLHS như Bộ luật hiện hành là không phù hợp, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Vẫn biết mục đích của hình phạt nói chung không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục người phạm tội trở thành cá nhân có ích cho xã hội; đối với người chưa thành niên phạm tội thì mục đích của chúng ta chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm chứ không mang tính trừng trị. Song, hiện nay rõ ràng việc người chưa thành niên phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng, gây nên những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không còn là cá biệt mà đang có chiều hướng gia tăng thì mức hình phạt như quy định hiện nay là không phù hợp, nếu như không nói chúng ta đang nhân đạo với một người mà lại không nhân đạo với nhiều người khác, đặc biệt là đối với những vụ thảm sát do người chưa thành niên phạm tội gây ra trong thời gian qua. Ví dụ như vụ tên Nguyễn Văn Ngọc khi phạm tội cướp tài sản và giết người bị cáo mới gần 15 tuổi, giả sử bị cáo không được giảm án thì cũng chỉ 27 tuổi bị cáo được trở về gia đình.Hay tên Lê Văn Luyện khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nếu chấp hành xong hình phạt thì cũng chỉ chưa tới 36 tuổi! Song nỗi đau của gia đình người bị hại thì chưa biết bao giờ mới nguôi ngoai và cũng không ai có thể biết trước liệu con người này có thực sự hướng thiện hay không? Đặc biệt, gần đây, lợi dụng chính sách nhân đạo của pháp luật cũng như mức hình phạt quy định với người chưa thành niên phạm tội mà đã có những đối tượng là người thành niên, lợi dụng những người chưa thành niên để kích động, xúi giục họ có những hành vi quá khích, trả thù hay tiến hành đâm thuê, chém mướn theo kiểu xã hội đen nhằm phục vụ cho những mưu đồ đen tối của các đối tượng phạm tội là người thành niên, gây mất trật tự trị an và gây hoang mang, lo sợ trong cộng đồng dân cư. Theo chúng tôi, đây cũng chính là nguyên nhân phát sinh tội phạm do người chưa thành niên thực hiện và làm giảm hiệu quả phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên phạm tội trên góc độ xét xử của Tòa án.

 

Thứ hai: Về các quy định tại Điều 75.

Tại Điều 75 BLHS hiện cũng quy định tổng hợp hình phạt trong hai trường hợp là “…Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi…” và “… Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi…”. Vậy nếu trường hợp người phạm tội là người chưa thành niên phạm nhiều tội và cùng trong độ tuổi chưa thành niên thì tổng hợp như thế nào? Tại Điều 74 BLHS cũng quy định hai mức hình phạt cho hai độ tuổi khác nhau là từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, nếu tội nặng nhất được thực hiện khi họ chưa đủ 16 tuổi còn lại các tội khác nhẹ hơn được thực hiện khi họ đã đủ 16 tuổi hoặc tội nặng nhất họ thực hiện khi đã đủ 16 tuổi, còn lại các tội khác nhẹ hơn họ thực hiện khi họ chưa đủ 16 tuổi thì tổng hợp như thế nào, hiện cũng không có quy định. Đây chính là điều vướng mắc và bất cập quy định tại phần chung của BLHS.

 

2. Hướng sửa đổi một số điều quy định tại phần chung của BLHS.

Thứ nhất: Cần bổ sung một điều luật quy định về “Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội”. Có thể quy định là:

Điều… ““Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kìm chế được hành vi phạm tội của mình một cách tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với họ, gây nên sự phản ứng dẫn đến hành vi phạm tội”

 

Thứ hai: Cần sửa đổi, bổ sung các quy định tại Điều 43, 44 BLHS theo hướng:

Đối với khoản Điều 43 BLHS cần sửa đổi như sau:

“1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại khoản 1 Điều 13 của Bộ luật này, thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luật của Hội đồng giám định pháp y, quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

2. (Giữ nguyên)

3. (Giữ nguyên)”

Đối với Điều 44 “Thời gian bắt buộc chữa bệnh” cần bổ sung như sau:

“…Thời gian bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành hình phạt tù được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”.

Tiến sĩ Phạm Minh Tuyên - Phó Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh

CÁC TIN KHÁC