Thứ Năm, 24/8/2017
Không có lịch xét xử trong ngày hôm nay


Một số vướng mắc tại Thông tư số 08/2015/TTLTT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015.

23/2/2016 08:42

Thông tư số 08/2015/TTLTT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 có hiệu lực, trong quá trình triển khai phát sinh những vướng mắc. Bài viết dưới đây của Tiến sỹ: Phạm Minh Tuyên - Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh sẽ chỉ ra những vướng mắc đó.

Một số vướng mắc tại Thông tư số 08/2015/TTLTT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015

                                                                        TS. Phạm Minh Tuyên

                                                                    Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh

Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 (sau đây gọi tắt là Thông tư 17). Trong Thông tư 17 có một số vấn đề hướng dẫn hết sức quan trọng, đặc biệt là hướng dẫn tại tiết 1.4 Mục 1 Phần I đó là “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất…”. Song không hiểu do vô tình hay cố ý, mà một thời gian dài các Cơ quan tiến hành tố tụng từ địa phương đến Trung ương đều không thực hiện đúng hướng dẫn tại tiết 1.4 mục 1 Phần I của Thông tư 17. Chỉ đến khi Tòa án nhân dân tối cao có Công văn số 234 ngày 17/9/2014 (gọi tắt là Công văn 234), yêu cầu các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự cần quán triệt và thực hiện đúng hướng dẫn tại tiết 1.4 Mục 1 Phần I như đã nêu, theo đó khi xét xử các vụ án về  ma túy thì phải có kết quả trưng cầu giám định hàm lượng ma túy trong các chất thu giữ nghi là ma túy để lấy đó làm căn cứ kết tội và quyết định hình phạt với bị cáo nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác trong xét xử. Sau khi có Công văn 234, thì đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, đặc biệt là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đồng tình với nội dung của Công văn 234, bắt bẻ về từ ngữ trong hướng dẫn tại Thông tư 17 cũng như nêu những khó khăn khi giám định hàm lượng và cho rằng việc bắt buộc giám định hàm lượng dẫn đến việc tồn đọng các vụ án về ma túy, gây khó khăn cho công tác điều tra, không đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay.

Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, song chúng tôi khẳng định rằng nội dung của Công văn 234 không phải là hướng dẫn mới gây cản trở hoạt động tố tụng như một số ý kiến phản hồi mà chỉ là việc quán triệt, yêu cầu các Tòa án thực hiện đúng hướng dẫn tại Thông tư 17 mà thôi. Chúng tôi nghĩ việc giám định hàm lượng các chất ma túy trong các vụ án về ma túy là hết sức cần thiết, bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai trong hoạt động tố tụng. Theo từ điển tiếng Việt thì hàm lượng là “lượng của một chất chứa trong một hỗn hợp hoặc trong một chất nào đó, tính bằng %”. Như vậy, có thể hiểu hàm lượng chất ma túy là phần trăm chất ma túy có trong chất nghi là ma túy được giám định, cũng như tại Công văn số 20542 của Cục quản lý Dược ngày 25/11/2014 cũng đã có ý kiến là “… Việc bắt buộc giám định hàm lượng của các chất ma túy trong các chất thu giữ nghi là chất ma túy là thực sự cần thiết, khoa học, khách quan và đảm bảo tính chính xác. Quy định này nhằm đảm bảo việc xét xử không chỉ thực hiện các quy định của pháp luật mà còn phải đảm bảo sự khách quan, công bằng, bảo vệ quyền lợi cho các bị cáo, tránh xét xử oan sai. Việc giám định hàm lượng có thể khó khăn, có thể kéo dài thời gian giải quyết các vụ án nhưng việc xét xử sẽ đúng người đúng tội”.

Thực tế cho thấy, sau khi có Công văn 234 thì việc giám định hàm lượng cũng đã được thực hiện, kết quả cho thấy rất nhiều vụ án về ma túy qua giám định hàm lượng chất ma túy cho thấy đa phần các chất nghi là ma túy được thu giữ có hàm lượng ma túy là rất thấp có trường hợp chỉ hơn 10% là ma túy còn lại là tạp chất khác ví dụ như: Vụ án Nguyễn Văn Hoàn ở Bắc Ninh nếu truy tố theo trọng lượng ban đầu không giám định hàm lượng thì trọng lượng các chất ma túy quy đổi để truy cứu trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với bị cáo là trên 800gam Hêroin, do vậy bị cáo đã bị tuyên phạt hình phạt tử hình. Sau khi Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, hủy án yêu cầu giám định thì trọng lượng ma túy thực chất chỉ là 186 gam Hêroin còn lại là các tạp chất khác không phải là ma túy, nên chỉ tuyên bị cáo mức án tù chung thân. Thực tế ở Bắc Ninh, sau khi bắt buộc giám định hàm lượng ma túy của hàng chục  vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy thì quy đổi ra đều chưa đến 0,1gam Hêroin tức là chưa thỏa mãn về trọng lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên các vụ án này đã được đình chỉ.

Thực chất, qua nghiên cứu các hướng dẫn tại Thông tư 17 cũng thấy bộc lộ nhiều vấn đề vướng mắc cần phải có hướng dẫn cụ thể hơn để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, đặc biệt đối với các vụ án ma túy mang tính truy xét không thu được vật chứng của vụ án. Chính vì vậy, các Cơ quan tố tụng Trung ương đã nghiên cứu và ban hành Thông tư số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2015 (sau đây gọi tắt là Thông tư số 08), sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17.

Qua nghiên cứu nội dung của Thông tư liên tịch số 08 chúng tôi thấy có những vướng mắc như sau:

Thứ nhất: Thông tư liên tịch số 08 sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau:

“1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:

a. Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;

b. Chất ma túy, tiến chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;

c. Xái thuốc phiện;

d. Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật…”

Theo chúng tôi, việc hướng dẫn như trên thực chất chỉ tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra và truy tố còn lại là gây khó khăn cho Tòa án khi xét xử và bộc lộ những vướng mắc như sau:

1. Trong các trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng như đã nêu thì thực tế rất ít vụ án về ma túy khi chất ma túy bị thu giữ ở thể rắn mà lại được pha loãng ví dụ như Hêroin các đối tượng tàng trữ khi bị bắt thì các đối tượng này đã pha loãng để chích vào cơ thể, nếu khi giám định ra hàm lượng ma túy là bao nhiêu phần trăm thì tính quy đổi thành Hêroin nguyên chất sẽ quy đổi như thế nào? Hiện cũng chưa có hướng dẫn, trong khi mà Cơ quan điều tra thông thường chỉ giám định hàm lượng còn lại không quy đổi, chẳng lẽ chúng ta xét xử cả nước lã hoặc nước cất? Tương tự như vậy đối với ma túy ở thể lỏng được các đối tượng pha loãng thì quy đổi ra làm sao? Chưa nói đến hiện nay, xái thuốc phiện hầu như các đối tượng phạm tội về ma túy không bao giờ mua bán, cùng lắm chỉ là những đối tượng nghiện hút không có tiền buộc phải tàng trữ để sử dụng. Như vậy, việc quy định các trường hợp phải bắt buộc giám định như hướng dẫn tại Thông tư 08 thì hầu như Cơ quan điều tra rất ít khi phải giám định hàm lượng.

Một vần đề đặt ra nữa là: Tại sao chỉ “Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; Xái thuốc phiện” Thì phải giám định còn các chất ma túy khác có pha các chất khác lại không bắt buộc phải giám định như vậy có bảo đảm công bằng không?

2. Thông tư 08 hướng dẫn “…Nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm cho việc xét xử đúng pháp luật…”. Hướng dẫn như vậy, theo chúng tôi sẽ dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất, dẫn đến việc Tòa án cấp trên có thể hủy án của Tòa án cấp dưới bất cứ lúc nào bởi lẽ: Về nguyên tắc xét xử thì đương nhiên phải bảo đảm nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vậy hiểu thể nào là “có căn cứ và xét thấy cần thiết…”? Hướng dẫn như vậy liệu có phải là hướng dẫn mang tính tùy nghi, có thể cấp sơ thẩm bảo không cần thiết, xong cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm lại bảo là cần thiết thì sẽ hủy bản án. Chúng tôi nghĩ, đối với các vụ án về ma túy thì khi thu giữ được các chất nghi là ma túy thì lúc nào cũng cần thiết phải giám định hàm lượng chất ma túy và chỉ có vậy thì mới xét xử đúng pháp luật. Chúng ta không thể tuyên một bản án tử hình đối với một người khi họ mua bán ma túy mà lại chỉ có ba trăm gam là ma túy còn lại bảy trăm gam là bột sắn hoặc bột mỳ được! Nhất là hiện nay, rất nhiều trường hợp tàng trữ trái phép chất ma túy là Hêroin sau khi giám định hàm lượng thì lại không đủ trọng lượng trên 0,1g nếu căn cứ vào hướng dẫn tại tiết 3.6 của Thông tư 17 thì họ chỉ bị xử phạt hành chính, nhưng nay lại thuộc trường hợp không bắt buộc Cơ quan Điều tra, Truy tố phải giám định, nếu Tòa án cũng coi là không cần thiết và không đi giám định thì sẽ dẫn đến tình trạng oan sai trong tố tụng hình sự. Nhất là hiện nay, Việt Nam đã tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người. Bởi vậy, trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử luôn phải bảo đảm sự công bằng, khách quan và quyền con người muốn vậy thì đối với các vụ án về ma túy việc giám định hàm lượng các chất ma túy là hết sức cần thiết.

Trường hợp Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định hàm lượng, thì Cơ quan nào thực hiện việc đi giám định? Nếu Tòa án trưng cầu giám định hàm lượng mà lại phải trực tiếp liên hệ với Cơ quan giám định thì thủ tục xuất vật chứng từ Cơ quan thi hành án sẽ thực hiện như thế nào? Kinh phí giám định lấy ở đâu? Cơ quan giám định có gây khó khăn không?  Có bảo đảm thời hạn xét xử hay không? Có vi phạm tố tụng không? Trong khi kết luận giám định là một trong những nguồn của chứng cứ mà Tòa án là cơ quan xét xử lại đi thu thập chứng cứ mà lại là chứng cứ buộc tội! Đây chính là những khó khăn mà Thông tư số 08 hướng dẫn đã dành cho Tòa án. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể.

Thứ hai: Trong Thông tư số 08 có hướng dẫn “…Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận cuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tương ứng.”

Hướng dẫn trên, theo chúng tôi nhằm khắc phục những vụ án về ma túy mang tính truy xét mà không thu giữ được vật chứng của vụ án là ma túy, nhưng hướng dẫn như vậy cũng chưa mang tính thuyết phục vì căn cứ nào để xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt? Chắc chắn chỉ dựa vào lời khai của họ hoặc lời khai của các đồng phạm. Nhưng tính trọng lượng như thế nào khi mà tất cả các vụ án về ma túy mang tính truy xét, đa phần lời khai chỉ là bao nhiêu bánh Hêroin, căn cứ vào đâu để tính trọng lượng một bánh Hêroin là bao nhiêu gam, vì không có Cơ quan đo lường chất lượng nào quy định về vấn đề này, thực tế xét xử cũng cho thấy trọng lượng các bánh Hêroin thu giữ trong các vụ án về ma túy đã xét xử là không giống nhau có bánh là 350 gam, có bánh lại 300 gam hoặc ít hơn 300 gam… Nếu vậy việc xác định trọng lượng ma túy có chính xác không?

Thứ ba: Thông tư 08 cũng bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm đ tiết 3.7 Mục 3 Phần II là “Người nào tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến g tiểu mục 3.6 Mục 3 Phần II Thông tư này mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác, nhưng chứng minh được là nhằm mục đích sử dụng trái phép chất ma túy, tuy đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 199 Bộ luật hình sự.”. Bãi bỏ hướng dẫn tại điểm b tiết 7.3 Mục 7 Phần II là “Người nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy…” và Mục 8 Phần 2 là “Tội sử dụng trái phép chất ma túy”.

Việc bãi bỏ những phần trên theo chúng tôi là hợp lý vì những phần trên liên quan đến tội “sử dụng trái phép chất ma túy” đã được phi tội phạm hóa từ năm 2009. Tuy nhiên, theo chúng tôi hướng dẫn tại điểm a tiết 6.2 Mục 6 Phần II là “Người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc tội sử dụng trái phép chất ma túy” cũng cần phải được bãi bỏ. Bởi lẽ, năm 2009, chúng ta đã sửa đổi Bộ luật hình sự theo hướng không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm cũng đã thể hiện sự nhân đạo đối với những người nghiện hút ma túy, mặc dù chúng ta đều biết người nghiện ma túy cũng là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự trị an. Xong như hướng dẫn tại Thông tư 17 thì vô hình dung những người nghiện ma túy ở một góc độ nào đó lại được “miễn trừ” về pháp luật điều đó là không công bằng. Trong khi hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã được quy định trong BLHS là tội phạm thì tất cả những hành vi liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, những người nghiện hút ma túy tụ tập nhau lại để sử dụng ma túy cũng không thể được miễn trừ như hướng dẫn tại Thông tư 17 được mà cần phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Có như vậy, mới bảo đảm nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự cũng như giữ gìn trật tự trị an, hạn chế các tội phạm xã hội khác phát sinh từ chính những người nghiện, thực tế hiện nay tình trạng sử dụng ma túy tổng hợp gây ảo giác đang phổ biến và lan truyền rất nhanh, rất nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng cũng xuất phát từ nguyên nhân sau khi sử dụng ma túy tổng hợp người nghiện xuất hiện ảo giác đã không làm chủ được bản thân dẫn đến phạm tội. Chúng ta thử hình dung một nhóm người nghiện tụ tập nhau cùng sử dụng ma túy rồi cùng nhau phạm tội thì hậu quả chúng gây ra cho xã hội sẽ nghiêm trọng đến đâu.

Trên đây là một số vướng mắc chúng tôi nêu ra xuất phát từ chính những hướng dẫn tại thông tư 08 rất mong có sự hướng dẫn kịp thời của Tòa án nhân dân tối cao.

 

 

 

TS: Phạm Minh Tuyên - Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh.

CÁC TIN KHÁC