Chủ nhật, 25/6/2017
Không có lịch xét xử trong ngày hôm nay


Những giải pháp về hoàn thiện pháp luật và Công tác tổ chức đội ngũ cán bộ và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của Tòa án cấp sơ thẩm.

11/6/2015 07:38

Những giải pháp về hoàn thiện pháp luật và Công tác tổ chức đội ngũ cán bộ và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của Tòa án cấp sơ thẩm nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao cùng với sự quan tâm, ủng hộ của các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, Hệ thống Tòa án nhân dân đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ công tác được giao.

Tỷ lệ giải quyết các loại vụ án đều đạt và vượt chỉ tiêu công tác đã đề ra; chất lượng công tác giải quyết và xét xử các loại án tiếp tục được nâng cao, nhất là án về dân sự, đã hạn chế các vụ án dân sự tồn đọng kéo dài gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Đội ngũ cán bộ, Thẩm phán Tòa án nhân các cấp tiếp tục được bổ sung, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc của Tòa án nhân dân các cấp không ngừng được tăng cường, giúp cho các Tòa án có những điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được còn có những khó khăn, vướng mắc trong các quy định của pháp luật như: Một số điều luật quy định còn chưa chi tiết, chưa rõ ràng, hoặc chưa có quy định của pháp luật gây khó khăn cho chủ thể áp dụng pháp luật; công tác tổ chức đội ngũ cán bộ; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho các Tòa án còn hạn chế cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giải quyết và xét xử các loại án nói chung, đặc biệt là giải quyết các vụ việc dân sự nói riêng tại Tòa án nhân dân.

         Trong phạm vi chuyên đề này, tôi xin đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến công tác giải quyết các vụ việc dân sự; giải pháp về công tác  tổ chức cán bộ và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Tòa án cấp sơ thẩm nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trong thời gian tới.

       1- Hoàn thiện các quy định của Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự và tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

       1.1- Hoàn thiện các quy định của Bộ luật dân sự.

        Bộ luật dân sự được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006. BLDS là một đạo luật quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn, thiết lập các nguyên tắc chung cho các mối quan hệ trong đời sống dân sự nên sau khi thay thế BLDS năm 1995, BLDS  năm 2005 đã phát huy vai trò to lớn, đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới của Đất nước, phù hợp với điều kiện của Việt Nam cũng như phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế; BLDS đã cụ thể hoá các quy định trong Hiến pháp 1992, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước ta trên tinh thần quán triệt các Nghị quyết của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước.

       Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực nêu trên của BLDS, trong quá trình áp dụng, BLDS đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, như quy định:

        - Về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 62 BLDS): trong thực tiễn xét xử, có rất nhiều trường hợp người vợ hoặc người chồng xin ly hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự, theo quy định tại Điều này thì người vợ, người chồng đó lại là người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự. Như vậy, người xin ly hôn có thể nói là “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, rất dễ gây thiệt hại cho người bị mất năng lực hành vi dân sự, quyền lợi của người được giám hộ sẽ không được bảo đảm. Như vậy, điều luật này chỉ có ý nghĩa đối với trường hợp người giám hộ thực sự vì quyền lợi của người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự đối với người thứ ba mà không dự liệu được các quan hệ liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ giữa người giám hộ và người được giám hộ bị mất năng lực hành vi dân sự.

       - Về quy định tuyên bố một người đã chết tại Điều 81 BLDS: Khoản 1 Điều 81 BLDS quy định các trường hợp người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết và khoản 2 quy định tuỳ từng trường hợp, Toà án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 81. Tuy nhiên, do điều luật không nêu rõ ngày xác định một người đã chết nên có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau. Có ý kiến xác định ngày tuyên bố chết là ngày tiếp sau ngày mà các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 81 BLDS xác định. Chẳng hạn, điểm a khoản 1 Điều 81 BLDS quy định “Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Trong trường hợp này ngày tuyên bố chết phải là ngày tiếp theo ngày mà Toà án bố mất tích cộng thêm 03 năm. Tuy nhiên, ý kiến khác lại xác định ngày tuyên bố chết phải được xác định theo khoản 1 Điều 78 BLDS là ngày có tin tức cuối cùng của người bị tuyên bố đã chết. Việc có nhiều cách hiểu như trên là do quy định tại khoản 1 Điều 181 BLDS còn mang tính khái quát. Để khắc phục cách hiểu khác nhau đối với quy định về tuyên bố một người đã chết kiến nghị Điều 81 BLDS cần bổ sung quy định thời điểm xác định một người đã chết. Theo đó, thời điểm xác định một người đã chết là thời điểm ngay sau khi có đầy đủ các điều kiện để được tuyên bố là đã chết. Chẳng hạn, đối với trường hợp đã có quyết định tuyên bố mất tích của Toà án thì ngày chết phải được xác định là ngày kế tiếp sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của toà án có hiệu lực pháp luật. Đối với trường hợp biệt tích trong chiến tranh thì thời điểm chết phải được xác định là ngày kế tiếp sau năm năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc…

       - Về Hộ gia đình (Điều 106 BLDS): chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự hộ gia đình được quy định trong BLDS 2005 bị xem là có nhiều bất cập, gây ảnh hưởng lớn đến các quan hệ pháp luật có liên quan đến chủ thể này. Luật chỉ đưa ra chủ thể Hộ gia đình nhưng không có quy định cơ sở nào để hình thành Hộ gia đình, thành viên Hộ gia đình gồm những ai, tiêu chí xác định chủ hộ gia đình. Do không có căn cứ cụ thể nên hiện nay có nhiều cách hiểu rất khác nhau, có nơi hiểu là chủ thể hộ gia đình được xác định theo hộ khẩu, có nơi không xác định theo hộ khẩu mà xác định theo quan hệ huyết thống…và do không xác định thành viên của hộ gia đình gồm những ai đã dẫn đến các giao dịch liên quan đến quyền sở hữu tài sản của hộ gia đình gặp rất nhiều khó khăn, làm hạn chế các giao dịch do các cơ quan có thẩm quyền không xác định được thành viên hộ gia đình nên không chấp nhận các giao dịch liên quan đến tài sản của hộ gia đình và hướng dẫn người dân thực hiện nhiều thủ tục rườm rà, phức tạp.  

      - Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức: Điều 134 BLDS quy định:  “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”. Như vậy, việc có buộc các bên tuân thủ về hình thức của giao dịch dân sự hay không phụ thuộc vào việc 01 hoặc các bên tham gia giao dịch có yêu cầu hay không. Tuy nhiên, không phải đương sự nào cũng biết quy định này để yêu cầu. Hiện nay, Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn khi các bên tham gia giao dịch không tuân thủ về hình thức thì Toà án phải buộc các bên tuân thủ về hình thức mà không phụ thuộc các bên có yêu cầu hay không để xem xét mức độ lỗi của các bên. Quy định này mặc dù có phần nới rộng quyền cho Toà án giải quyết vụ án nhưng đã phát huy giá trị trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Toà án. Vì vậy, cần bổ sung trong trường hợp 01 trong các bên không yêu cầu nhưng thấy cần thiết thì Toà án có thể buộc các bên tuân thủ về hình thức của giao dịch trong khoảng thời gian nhất định. Kiến nghị bổ sung vào Điều 134 BLDS nội dung “hoặc khi thấy cần thiết” vào phía sau cụm từ “…một hoặc các bên…”.

         - Về đại diện theo uỷ quyền: Điều 143 BLDS quy định “1. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” điều luật chỉ giới hạn hai chủ thể của pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác trong khi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự ngoài hai chủ thể nêu trên thì còn nhiều chủ thể khác như hộ gia đình, tổ hợp tác. Vậy đại diện theo pháp luật của các chủ thể này có thể uỷ quyền cho người khác hay không? Phạm vi uỷ quyền chỉ trong việc xác lập và thực hiện giao dịch dân sự. Ngoài việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thì các việc khác như thay đổi, chấm dứt giao dịch dân sự có được thực hiện hay không?

        - Về quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 162 BLDS, khi có một trong các căn cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 162 BLDS thì thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại. Tuy nhiên, do Điều luật không quy định rõ khi hết thời hiệu mà xuất hiện các căn cứ tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 162 BLDS thì có tính lại hay không nên đã dẫn đến vướng mắc. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 162 BLDS để có cách hiểu thống nhất.

      - Về quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (Điều 273 BLDS 2005): điều luật quy định người sử dụng bất động sản liền kề phải đền bù, nhưng điều luật không quy định đền bù như thế nào, mức đền bù là bao nhiêu, nếu không đền bù thì có được sử dụng hay không. Thực tiễn xét xử thường Toà án tuyên chủ sử dụng đất phải dành cho người có bất động sản bị bao bọc bởi bất động sản khác lối đi hợp lý, nhưng về phần đền bù thì không đề cập đến hoặc tuyên phải đền bù nhưng mức đền bù như thế nào thì còn có nhiều ý kiến khác nhau.

        - Về thời hiệu khởi kiện (Điều 427 BLDS): việc quy định thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức bị xâm phạm là chưa thống nhất với quy định của BLTTDS, theo BLTTDS thì thời điểm tính là ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là hợp lý hơn vì có nhiều trường hợp thực tiễn xét xử, nếu tính theo quy định của BLDS hiện hành thì không đảm bảo được quyền lợi của bên có quyền.

       - Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay: Nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định chi tiết tại Điều 474 BLDS. Qua thời gian áp dụng, quy định này phát sinh một số bất cập sau:

        Một là, khoản 4 Điều 474 BLDS quy định: “Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận”. Như vậy, trong trường hợp vay không lãi, bên cho vay chỉ có quyền yêu cầu trả lãi chậm trả khi các bên có thoả thuận. Quy định này là không phù hợp, bởi vì khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, các bên đều hướng đến việc tuân thủ hợp đồng, tức là các bên sẽ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, không phải lúc nào các bên tham gia cũng biết quy định của pháp luật. Cho nên quy định như khoản 4 Điều 474 có thể làm cho bên vay cố tình dựa vào đây để vi phạm thoả thuận, kéo dài thời gian trả nợ trong khi bên cho vay trong trường hợp vay không lãi xuất phát từ ý định giúp đỡ bên vay hơn là phục vụ hoạt động vì lợi ích của bản thân.

        Hai là, khoản 5 Điều 474 BLDS quy định: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Vấn đề đặt ra là lãi suất nợ quá hạn được tính ra sao thì Điều luật không quy định rõ. Thực tiễn, lãi suất quá hạn trong trường hợp này vẫn tính theo lãi suất cơ bản. Điều này, đánh đồng cả lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn. Do đó, về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, kiến nghị, bỏ quy định “…nếu có thoả thuận” tại khoản 4 Điều 474 BLDS để góp phần buộc bên vay tôn trọng nghĩa vụ mà mình đã tham gia. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 474 BLDS theo hướng lãi suất quá hạn được xác định là 150%/lãi suất cơ bản.

      - Về lãi suất: Theo Điều 476 BLDS, lãi suất do các bên thoả thuận nhưng không quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định. Thông thường bên cho vay thường thoả thuận lãi suất rất cao so với Ngân hàng Nhà nước quy định nhưng đến khi bên vay không trả lãi và vốn theo thoả thuận thì bên cho vay khởi kiện đến Toà án. Lúc này Toà án điều chỉnh lãi suất cho vay nên là ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay rất nhiều. Trong khi đó, đối với các tổ chức tín dụng, nghĩa vụ trả lãi của bên vay phải theo thoả thuận giữa các bên (theo Luật các tổ chức tín dụng và Quy chế cho vay do Ngân hàng Nhà nước ban hành). Ngoài ra, trong các khoản vay tại tổ chức tín dụng đều được đảm bảo bằng tài sản. Điều này, tạo ra sự không công bằng giữa các đương sự trong hợp đồng vay và hợp đồng tín dụng. Kiến nghị sửa đổi quy định tại Điều 476 BLDS về lãi suất cho phù hợp với quy định lãi suất do Luật các tổ chức tín dụng quy định.

         - Về thời hạn uỷ quyền: Điều 582 BLDS quy định về thời hạn uỷ quyền như sau: “Thời hạn uỷ quyền do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền”. Như  vậy, quy định trên có thể hiểu nếu các bên (bên uỷ quyền và bên nhận uỷ quyền) không có thoả thuận hoặc pháp luật không có quy định thì thời hạn uỷ quyền là 01 năm. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh là hiểu như thế nào là không có thoả thuận chưa có sự thống nhất. Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự thấy rằng, thông thường trong giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng uỷ quyền, các bên chỉ xác định từ khi ký hợp đồng, giấy uỷ quyền cho đến khi “vụ án được giải quyết xong”, “được xét xử xong”, “từ các giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thi hành án”... Có ý kiến chấp nhận xác định thời hạn uỷ quyền theo các sự kiện pháp lý mà các bên xác định nhưng cũng có trường hợp cho rằng các trường hợp trên thuộc trường hợp không xác định thời hạn. Sự không thống nhất là do Điều 582 BLDS quy định chưa rõ, cũng như chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Để khắc phục bất cập về thời hạn uỷ quyền, kiến nghị bổ sung vào Điều 582 BLDS nội dung “trường hợp các bên thoả thuận chọn sự kiện làm mốc thời gian tính thời hạn uỷ quyền thì thời hạn uỷ quyền bắt đầu hoặc kết thúc khi phát sinh hoặc kết thúc sự kiện đó”.

        - Về thời hiệu khởi kiện (Điều 427 BLDS): việc quy định thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức bị xâm phạm là chưa thống nhất với quy định của BLTTDS, theo BLTTDS thì thời điểm tính là ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là hợp lý hơn vì có nhiều trường hợp thực tiễn xét xử, nếu tính theo quy định của BLDS hiện hành thì không đảm bảo được quyền lợi của bên có quyền.

       1.2. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

        Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 và được sửa đổi, bổ sung vào ngày 29/3/2011 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây được viết tắt là BLTTDS). Trong 10 năm qua kể từ ngày phát sinh hiệu lực, với việc quy định chi tiết, đầy đủ thẩm quyền của Tòa án, quyền nghĩa vụ của người tham gia tố tụng và trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng ..., BLTTDS đã tạo điều kiện thuận lợi để Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, chất lượng giải quyết các vụ việc dân sự cũng được nâng lên đáng kể, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền lợi ích hợp của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.

       Bên cạnh đó, qua thời gian áp dụng, nhiều quy định của BLTTDS chưa được quy định, hướng dẫn chi tiết. Một số quy định của BLTTDS được hướng dẫn nhưng chưa bao quát hoặc dự trù hết các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Nhiều vấn đề phát sinh mới chưa được bổ sung vào BLTTDS và chưa được hướng dẫn kịp thời. Đây là nguyên nhân chính tạo nên những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của BLTTDS vào thực tiễn thời gian qua.

      * Về thẩm quyền của Tòa án.

     - Về thẩm quyền theo vụ việc: Theo khoản 3 và khoản 7 Điều 25 BLTTDS thì “Tranh chấp về hợp đồng dân sự” và “Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai” đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong đó, tranh chấp quyền sử dụng đất tại khoản 7 Điều 25 BLTTDS có nội hàm rất rộng bao gồm cả các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, quy định tại khoản 7 Điều 25 BLTTDS không loại trừ các tranh chấp hợp đồng dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất nên gây khó khăn trong việc áp dụng. Để khắc phục, cần quy định loại trừ tranh chấp hợp đồng dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất tại khoản 7 Điều 25 BLTTDS.

      - Về thẩm quyền theo lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu: Theo điểm a khoản 1 Điều 36 BLTTDS thì nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án “nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng” giải quyết. Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn việc xác định nơi cư trú cuối cùng như thế nào và trường hợp nào xác định là “không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn” nên gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn. Vì vậy, kiến nghị cần quy định rõ việc “nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng” và “không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn” để áp dụng thống nhất.

      * Về chứng minh, chứng cứ.

      - Về việc cung cấp chứng cứ của đương sự: Khoản 1 Điều 84 BLTTDS quy định, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án. Đồng thời, nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, BLTTDS lại không nêu rõ thời hạn đương sự phải nộp chứng cứ nên dẫn đến việc đương sự muốn giao nộp chứng cứ vào thời gian nào cũng được. Có trường hợp, ở phiên tòa sơ thẩm, đương sự cố tình giấu chứng cứ để đến khi đến phiên tòa phúc thẩm mới chịu cung cấp hoặc trong giai chuẩn bị xét xử sơ thẩm đương sự không cung cấp đợi đến tại phiên tòa mới chịu nộp. Điều này, gây khó khăn cho Tòa án cấp sơ thẩm trong việc giải quyết vụ án hoặc dẫn đến án sơ thẩm bị hủy, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

       Để khắc phục bất cập này, kiến nghị quy định thời hạn cuối cùng để đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ là trước khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trong trường hợp, đương sự nộp chứng cứ sau thời điểm này thì phải nêu lý do. Tòa án chỉ chấp nhận nếu vì lý do khách quan mà đương sự giao nộp chứng cứ sau thời hạn cuối cùng.

      - Về thủ tục đối chất: Theo khoản 3 Điều 85 BLTTDS thì khi tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ “đối chất” tại các điểm b khoản 2 Điều 85 BLTTDS thì Thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án. Quy định này gây khó khăn cho Tòa án khi tiến hành biện pháp này. Bởi vì, khi ghi lời khai của đương sự mà phát hiện có mâu thuẫn thì Tòa án không thể tiến hành đối chất ngay mà phải ban hành quyết định đối chất ấn định ngày khác mới được tiến hành đối chất. Điều này gây khó khăn cho Thẩm phán, một mặt làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Trong trường hợp vì lý do nào đó mà đương sự cung cấp lời khai vắng mặt vào các lần triệu tập đối chất sau thì việc đối chất sẽ không thực hiện được. Hơn nữa, việc đối chất chỉ đạt kết quả khi cần sự bất ngờ trong cách đặt câu hỏi. Nếu ban hành quyết định sẽ dễ dẫn đến việc đối phó của đương sự, gây khó khăn trong việc xác định sự thật khách quan của Tòa án. Vì vậy, để khắc phục hạn chế này thì cần quy định việc tiến hành đối chất do Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án quyết định, không cần phải ban hành quyết định.

      - Về thủ tục tiến hành một số hoạt động thu thập chứng cứ khi có đương sự bất hợp tác, cản trở: Hiện nay, việc tiến hành các thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá… gặp nhiều khó khăn khi có đương sự cản trở. Việc khắc phục khó khăn này tùy mỗi nơi áp dụng khác nhau. Có nơi, Tòa án ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc đương sự có hành vi cản trở chấm dứt việc cản trở theo Điều 115 BLTTDS; nơi khác, Tòa án lại yêu cầu công an cấp xã, công an cùng cấp hỗ trợ cưỡng chế khi đương sự có hành vi cản trở. Tuy nhiên, do chưa có quy định trình tự thủ tục tiến hành nên Tòa án đã gặp khó khăn nhất định.

       Mặc dù, Tòa án nhân dân tối cao đang dự thảo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng nhưng bên cạnh việc xử lý bằng biện pháp hành chính cũng cần có quy định trình tự thủ tục tiến hành trong BLTTDS để áp dụng thống nhất và tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Để khắc phục hạn chế này, cần quy định rõ trình tự, thủ tục Tòa án cần tiến hành khi có đương sự cản trở hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.

       - Về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án: Những trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ và các biện pháp mà Tòa án được tiến hành được quy định tại các khoản 1, 2 Điều 85 BLTTDS. Ngoài các hoạt động được quy định tại các khoản 1, 2 Điều 85 BLTTDS, Tòa án còn sử dụng chứng cứ thu thập được qua các hoạt động khác như: (1) hoạt động tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện (chưa thụ lý vụ án) theo quy định tại Điều 165 BLTTDS; (2) chứng cứ thu được từ hoạt động hòa giải; (3) hoạt động xét xử tại phiên tòa sơ thẩm; (4) hoạt động xét xử tại phiên tòa phúc thẩm để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, các hoạt động này của Tòa án không được quy định là hoạt động thu thập chứng cứ là chưa phù hợp. Vì vậy, kiến nghị bổ sung vào cuối khoản 2 điểm h với nội dung “Các hoạt động khác mà Bộ luật này có quy định” để bao hàm các hoạt động thu thập chứng cứ khác của Tòa án.

      * Về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.

       Qua thực tiễn áp dụng quy định về tống đạt văn bản tố tụng do Tòa án tiến hành đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập sau:

       - Đối với việc tống đạt qua đường bưu điện: Do BLTTDS không quy định rõ trình tự, thủ tục tiến hành nên thực tiễn các Tòa án gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, việc tống đạt văn bản tố tụng qua bưu điện qua 02 hình thức: tống đạt thường và chuyển phát nhanh (đảm bảo). Trong mỗi hình thức được chia ra 02 cách thức là không hồi báo và có hồi báo. Tuy nhiên, các văn bản thể hiện việc chuyển giao giữa Tòa án và bưu điện không  có phần nội dung để Tòa án có thể ghi số hiệu, ngày tháng ban hành văn bản cũng như ghi thời gian triệu tập, mời đương sự, người tham gia tố tụng khác và càng không có mục nhân viên bưu điện phải giao tận tay cho người được tống đạt. Hơn nữa, việc tống đạt thường được chuyển qua nhiều đầu mối nên người giao tận tay cho người được tống đạt văn bản tố tụng không phải là người nhận văn bản từ cán bộ Tòa án ban đầu. Chính vì lẽ này, các văn bản chỉ chuyển đến địa chỉ mà Tòa án đã xác định trên bao thư còn việc người có tên trên bao thư ký nhận hay không không được nhân viên bưu điện quan tâm. Cho nên, rất nhiều trường hợp người khác sẽ nhận thay nhưng nhân viên bưu điện không ghi rõ người nhận là ai, quan hệ như thế nào với người được tống đạt. Điều này dẫn đến trường hợp, khi đến thời gian hòa giải, đối chất, xét xử… nếu đương sự được triệu tập không đến thì rất khó đảm bảo thủ tục tống đạt của Tòa án có hợp lệ hay không.

        Vì vậy, kiến nghị cần có văn bản liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao với Bộ Bưu chính viễn thông về vấn đề tống đạt để đảm bảo các thủ tục tố tụng của Tòa án.

       - Về tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng: Theo khoản 1 Điều 150 BLTTDS thì việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định của BLTTDS thì được coi là hợp lệ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp do không quy định chế độ kiểm tra việc chuyển giao cho người được tống đạt từ người trung gian dễ dẫn đến việc người trung giao không giao hoặc giao không đúng thời hạn cho người được tống đạt dẫn đến việc người được tống đạt không thể biết việc Tòa án triệu tập mình để tham gia tố tụng. Theo khoản 2 Điều 148 BLTTDS thì người có nghĩa vụ thực hiện việc tống đạt mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì phải chịu trách nhiệm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm. Tuy nhiên, chế tài này rất khó thực thi bởi vì người tống đạt trung gian hầu như không được lợi ích gì từ việc nhận tống đạt văn bản tố tụng. Nếu buộc họ chịu trách nhiệm thì việc tống đạt văn bản tố tụng qua trung gian của Tòa án sẽ rất khó thực hiện.

        Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền trung ương cần ban hành quy chế phối hợp trong việc thực hiện thủ tục tống đạt theo quy định của BLTTDS. Đồng thời, quy định về chế độ bồi dưỡng đối với những người thuộc các cơ quan này thực hiện việc tống đạt để kích thích họ tích cực hỗ trợ Tòa án.

       - Về phương thức thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa phù hợp với thực tiễn: Theo khoản 1 Điều 155 BLTTDS, các trường hợp phải thực hiện phương thức tống đạt trên phương tiện thông tin đại chúng bao gồm: (1) khi pháp luật có quy định; (2) có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được tống đạt nhận được thông tin về văn bản cần được tống đạt và (3) có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự khác. Tuy nhiên, quy định này không khả thi và trên thực tế rất ít Tòa án thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bởi vì, BLTTDS không có quy định loại trừ những văn bản tố tụng nào được bỏ qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên về nguyên tắc tất cả các văn bản tố tụng đều phải lần lượt được tống đạt qua các bước từ trực tiếp đến thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó, về nghĩa vụ chịu chi phí cho việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, theo khoản 1 Điều 155 BLTTDS thì đương sự chỉ phải chịu chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng khi họ là người người yêu cầu. Trong trường hợp họ không yêu cầu mà (1) khi pháp luật có quy định; (2) có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được tống đạt nhận được thông tin về văn bản thì đương sự không phải chịu lệ phí đăng báo, đài. Cho nên, lệ phí trong trường hợp này có được Tòa án chi ra hay không và nếu Tòa án chịu thì được quyết toán vào đâu cũng chưa có hướng dẫn. Chính vì vậy, các Tòa án thường chỉ dừng lại ở mức niêm yết công khai, việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ thực hiện khi đương sự có yêu cầu. Vì vậy, cần có sửa đổi quy định về tống đạt theo hướng quy định một số văn bản bắt buộc phải qua các bước trong thủ tục tống đạt, đối với một số văn bản chỉ chấm dứt ở giai đoạn việc tống đạt không thực hiện được và việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ khi có yêu cầu của đương sự hoặc pháp luật có quy định. Có như vậy, việc giải quyết vụ án của Tòa án mới đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án một cách không cần thiết.

      - Đối với thủ tục niêm yết cho cơ quan, tổ chức: BLTTDS chỉ quy định việc niêm yết văn bản tố tụng cho cá nhân mà không đề cập đến việc niêm yết văn bản tố tụng cho cơ quan, tổ chức. Đây là khiếm khuyết của BLTTDS. Trong khi đó, việc không tiến hành thủ tục niêm yết cho cơ quan, tổ chức sẽ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của chính cơ quan, tổ chức đó vì họ không biết Tòa án đang giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ. Hiện nay, trong tố tụng hành chính lại quy định thủ tục niêm yết đối với cơ quan, tổ chức theo điểm b khoản 2 Điều 100 Luật Tố tụng hành chính. Cho nên, bổ sung vào BLTTDS thủ tục niêm yết cho cơ quan, tổ chức như quy định trong Luật Tố tụng hành chính.

     * Về thời hạn giải quyết vụ việc dân sự.

      - Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Theo quy định của BLTTDS, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình (bao gồm yêu cầu khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập). Tuy nhiên, BLTTDS và các văn bản hướng dẫn lại không quy định việc tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử trong những trường hợp đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu nên gây rất nhiều khó khăn cho Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.

Trong khi đó, khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu thì thông thường, Tòa án phải tiến hành các thủ tục tố tụng như giải quyết yêu cầu ban đầu của đương sự. Hơn nữa, pháp luật tố tụng dân sự không giới hạn thời hạn thay đổi, bổ sung yêu cầu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nên có những trường hợp khi gần hết thời hạn chuẩn bị xét xử thì đương sự mới thay đổi yêu cầu của mình. Cần quy định trong những trường hợp đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu mà dẫn đến việc Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng lại thì thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ được tính lại như khi Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập.

      * Về tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự.

       Theo Điều 189 BLTTDS và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP thì khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được bắt đầu tính lại kể từ ngày Toà án tiếp tục giải quyết vụ án. Đây chính là một trong những lý do làm cho thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài. ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

      Riêng đối với căn cứ tại khoản 5 Điều 189, BLTTDS quy định Tòa án chỉ được ban hành quyết định tạm đình chỉ khi thời hạn giải quyết đã hết là chưa phù hợp. Bởi vì, trong trường hợp chỉ khi có kết quả ủy thác tư pháp hoặc tài liệu, chứng cứ thu thập được mới quyết định các thủ tục tiếp theo của Tòa án để giải quyết vụ án mà nếu chờ đến khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án mới được ban hành quyết định tạm đình chỉ sẽ không phù hợp vì từ thời gian đó đến khi có kết quả ủy thác tư pháp, tài liệu, chứng cứ được giao nộp, Tòa án không thực hiện được hoạt động tố tụng nào cả. Để khắc phục, kiến nghị cần quy định, thời gian khắc phục lý do tạm đình chỉ không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử và bỏ quy định “hết thời hạn chuẩn bị xét xử” đối với căn cứ tạm đình chỉ tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS.

      * Về hoãn phiên tòa.

       - Về trường hợp hoãn phiên tòa: Các trường hợp hoãn phiên tòa được quy định tại khoản 1 Điều 208 BLTTDS. Tuy nhiên, qua thực tiễn còn tồn tại trường hợp, qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, để giải quyết vụ án Tòa án cần phải tiến hành hoạt động tố tụng để kiểm tra, đánh giá lại tài liệu, chứng cứ đã thu nhập hoặc phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ mới giải quyết vụ án hoặc phải đưa thêm người tham gia tố tụng… Từ đó, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ, đưa thêm người tham gia tố tụng. Sau đó, Tòa án phải tiến hành lại các hoạt động tố tụng như: hòa giải, giám định… Sau khi hoàn thành các thủ tục này, Tòa án tiếp tục ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, việc Tòa án hoãn phiên tòa trong trường hợp thu thập thêm tài liệu, chứng cứ không được BLTTDS quy định. Đồng thời, việc Tòa án tiến hành các hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ, đưa thêm người tham gia tố tụng không được BLTTDS quy định. Có nơi, Tòa án cấp phúc thẩm xem đây là vi phạm tố tụng và hủy án của Tòa án cấp sơ thẩm. Nhưng có nơi, việc Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng này vẫn được chấp nhận, không bị xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Bởi vì, nếu đang thiếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, thiếu tài liệu, chứng cứ quan trọng thì bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đương nhiên bị hủy.

       Để có sự áp dụng thống nhất và phù hợp với thực tiễn, kiến nghị cần quy định Tòa án được hoãn phiên tòa nếu qua xét hỏi, tranh luận mà cần thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc đưa thêm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đồng thời, quy định cho phép Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp để giải quyết vụ án và quy định thời hạn hợp lý để Tòa án mở lại phiên tòa, có thể tối đa 2 tháng kể từ ngày hoãn phiên tòa nhằm tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

       - Về thời gian mở lại phiên tòa: Khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BLTTDS, trong hạn 1 tháng (hoặc 2 tháng trường hợp có lý do chính đáng) Thẩm phải phải mở phiên tòa. Đồng thời, theo Điều 208 BLTTDS thì trong trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà thì thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm là không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà. Trong quyết định hoãn phiên tòa phải ghi thời gian mở lại phiên tòa. Nếu Tòa án không thể mở lại phiên tòa vào thời gian ấn định trong quyết định hoãn phiên tòa thì phải thông báo ngay thời gian mở lại phiên tòa cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, BLTTDS lại không quy định thời gian thông báo lại trong bao lâu.

       Bên cạnh đó, theo pháp luật tố tụng dân sự, một vụ án có thể bị hoãn nhiều lần mà không giới hạn số lần hoãn. Chính các quy định có tính mở về thời gian hoãn phiên tòa này đã làm cho thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài.

       Để khắc phục, kiến nghị cần quy định phiên toà xét xử một vụ án chỉ bị hoãn tối đa hai lần. Nếu chưa ấn định được ngày mở lại phiên toà, thì trong hạn 01 tháng kể từ ngày mở phiên tòa phải thông báo mở lại phiên tòa và thời gian mở lại phiên tòa không được quá 2 tháng kể từ ngày hoãn phiên tòa.

       1.3. Tăng cường công tác giải thích và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Theo quy định của khoản 1, Điều 19 Luật Tổ chức TAND về nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), trong đó TANDTC có nhiệm vụ “Hướng các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án”.

Thực tiễn hoạt động của Tòa án trong thời gian qua cho thấy, công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của TANDTC chưa kịp thời, còn nhiều bất cập, công tác giải thích pháp luật thuộc quyền hạn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chưa được chú trọng đó là nguyên nhân làm cho việc áp dụng pháp luật để giải quyết án các loại án nhất là án dân sự của Tòa án các cấp còn lúng túng, kết quả giải quyết án chưa cao.

Trong những năm qua, việc hướng dẫn ADPL của TANDTC được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: Qua báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm; bằng các văn bản hướng dẫn đơn hành đối với từng vấn đề. Nhưng phải kể đến hình thức hướng dẫn ADPL quan trọng nhất và có hiệu lực cao nhất trong phạm vi toàn quốc là các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, đây là hình thức văn bản QPPL có tính bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể ADPL.

Tuy nhiên, do đặc thù ADPL trong hoạt động giải quyết các vụ án dân sự rất phức tạp và đa dạng, mỗi vụ án đều có những đặc điểm riêng, do đó việc ADPL là tương đối khó khăn. Trong khi đó những văn bản hướng dẫn xét xử của TANDTC chỉ khái quát được những tình tiết và đặc điểm chung nhất trong từng loại vấn đề. Trong thực tiễn xét xử và ADPL, TAND các cấp thường vận dụng một cách linh hoạt những hướng dẫn của TANDTC để áp dụng cho từng vụ việc cụ thể, nhưng ở mỗi nơi địa phương, các vụ án cách hiểu và vận dụng những hướng dẫn xét xử của TANDTC đôi khi còn chưa thống nhất, có những vụ án còn có nhiều quan điểm khác nhau về ADPL giữa các cấp TAND ở trong tỉnh còn khác nhau, thậm chí là ngay trong các thành viên của Hội đồng xét xử còn có quan điểm khác nhau, do vậy hiệu quả của công tác hướng dẫn pháp luật còn chưa đạt được như mong muốn. Bên cạnh đó, vấn đề cần phải quan tâm là công tác hướng dẫn ADPL của TANDTC còn chậm chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, điều này làm ảnh hưởng tới tính thống nhất về ADPL trong hoạt động giải quyết các vụ án nói chung và các vụ án dân sự nói riêng, đây cũng chính là nguyên nhân của tình trạng các vụ án bị cấp trên sửa, hủy có chiều hướng tăng ở các TAND địa phương.

Qua hoạt động ADPL trong giải quyết các vụ việc dân sự cho thấy, giải thích và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật là rất quan trọng và cần thiết, đây cũng là công tác khó khăn và phức tạp, đòi hỏi có khả năng trí tuệ cao. Để thực hiện có hiệu quả, các cơ quan có thẩm quyền cần phải có những khảo sát, nghiên cứu và từng bước đổi mới để góp phần nâng cao hiệu quả của việc ADPL trong hoạt động giải quyết các vụ án dân sự nhằm đảm bảo ADPL được thống nhất.

         2. Những giải pháp trong công tác tổ chức đội ngũ cán bộ nhằm khắc phục khó khăn vướng mắc trong giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm.

       Tiếp tục củng cố, kiện toàn bộ máy và tổ chức cán bộ Toà án các cấp; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển cán bộ; thực hiện ngay các giải pháp về tổ chức cán bộ để từng bước đảm bảo tuyển dụng và tuyển chọn đủ cán bộ, Thẩm phán theo biên chế đã được phê duyệt. Tăng cường hơn nữa công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Toà án vừa có trình độ chuyên môn, vừa có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức tốt và tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tiết kiệm, không tham nhũng; xây dựng các quy định, quy chế tăng cường kỷ luật công vụ và công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh đối với tập thể và cá nhân cán bộ, công chức Toà án có vi phạm.

Công tác Hội Thẩm nhân dân luôn được Toà án các cấp quan tâm đúng mức, bảo đảm cho Hội Thẩm nhân dân khi xét xử được độc lập và ngang quyền với Thẩm phán, phát huy tốt tính dân chủ, khách quan trong các bản án, quyết định của Toà án. Hàng năm Tòa án các tỉnh, thành phố tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ cho Hội Thẩm nhân dân nhằm phục vụ tốt công tác chuyên môn của ngành.

Để nâng cao hiệu quả và chất lượng xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự thì việc nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, bồi dưỡng phẩm chất chính trị nhất là kiến thức về xã hội cho đội ngũ Thẩm phán là vấn đề cần quan tâm. Vì hiện nay, đa số các Thẩm phán tuy đã có trình độ Đại học Luật và lý luận chính trị, nhưng kiến thức về quản lý kinh tế, quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng, tài chính, ngân hàng còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội có bước phát triển mới cũng đòi hỏi các Thẩm phán phải cập nhật thông tin, kiến thức mới và đổi mới tư duy để hoàn thành nhiệm vụ. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới, nhiều đạo luật hiện hành được bổ sung, sửa đổi, hệ thống pháp luật đã có sự thay đổi căn bản. Điều này đòi hỏi Thẩm phán phải thường xuyên nắm bắt những thay đổi của pháp luật để áp dụng đúng đắn, chính xác. Để nâng cao trình độ năng lực, phẩm chất chính trị và kiến thức chuyên môn cho Thẩm phán ở Toà án nhân dân cấp sơ thẩm cần phải chú ý thực hiện các yêu cầu sau:

Một là: Việc đào tạo bồi dưỡng Thẩm phán, phải có kế hoạch quy hoạch cụ thể tránh tình trạng cử đi học một cách tràn lan, vừa ảnh hưởng đến hoạt động xét xử các Toà án, vừa lãng phí tiền của Nhà nước, của cá nhân Thẩm phán. Đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán phải bám sát yêu cầu của công tác xét xử và trên cơ sở đánh giá năng lực sở trường của từng Thẩm phán cũng như phải tính đến sự đồng đều giữa các Thẩm phán Toà án nhân dân cấp sơ thẩm.

Hai là: Tăng cường đa dạng hoá các loại hình đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng theo trường lớp với rèn luyện, thử thách Thẩm phán trong thực tiễn công tác và cuộc sống. Những Thẩm phán đương nhiệm có khối lượng công việc rất lớn việc đào tạo tập trung là khó thực hiện. Vì vậy cần chú trọng hình thức bồi dưỡng, tập huấn ngắn ngày để bổ túc kiến thức nghiệp vụ; bồi dưỡng theo chuyên đề kết hợp với tổ chức các cuộc hội thảo tổng kết công tác thực tiễn và học tập Nghị quyết, chủ trương chính sách của Đảng một cách thường xuyên. Cần quy định rõ trong mỗi nhiệm kỳ của Thẩm phán, phải có một thời gian thích hợp để mỗi Thẩm phán được tham gia đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, cập nhật những thông tin mới về khoa học pháp lý để họ không lạc hậu về kiến thức lý luận.

Ba là: Để công tác giải quyết và xét xử các vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm đạt chất lượng, hiệu quả thì đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, Thư ký, Thẩm tra viên phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, nhất là đạo đức nghề nghiệp. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức trong ngành, đặc biệt là việc triển khai, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và các Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và Thẩm phán. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, Thẩm phán của Tòa án các cấp.

Tóm lại, việc kiện toàn cơ cấu tổ chức của Toà án cấp sơ thẩm và nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký là công việc quan trọng, nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục. Thực hiện tốt công việc bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị và các kiến thức khoa học cần thiết cho Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Toà án là giải pháp trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các loại án nói chung và án dân sự nói riêng.

3. Giải pháp tăng cường phương tiện và điều kiện cơ sở vật chất cho các Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và hoàn thiện chế độ chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ tòa án.

Để đảm bảo hiệu quả cho hoạt động xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm thì cần phải quan tâm đến việc tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc là một yêu cầu cấp thiết. Mặc dù đã được Nhà nước quan tâm và đổi mới, nhưng đến nay kinh phí hoạt động của TAND nói chung và của TAND cấp sơ thẩm nói riêng vẫn còn hạn hẹp, điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công tác của Thẩm phán trong giải quyết các vụ việc dân sự còn hạn chế. Hoạt động xét xử của các TAND do vậy cũng bị ảnh hưởng nhất định, như những phiên tòa đáng ra phải được xét xử trong nhiều ngày nhưng do thiếu kinh phí nên thường phải rút ngắn thời gian xét xử, ảnh hưởng tới thêi gian tranh tông t¹i phiªn toµ vµ việc xem xét và đánh giá chứng cứ, hoặc khi tiến hành định giá và các phiên tòa xét xử lưu động, nhất là ở cấp huyện, kinh phí hạn hẹp, không có ô tô vận chuyển các phương tiện phục vụ cho công tác nghiệp vụ của Thẩm phán và cán bộ còn thiếu, các Thẩm phán thường gặp nhiều khó khăn trong việc tìm tài liệu, văn bản pháp luật. Văn bản Pháp luật mới được ban hành chưa đầy đủ và thường xuyên. Công tác theo dõi hồ sơ, số liệu, thụ lý vụ án và lưu trữ được thực hiện theo phương pháp thủ công, do đó không đáp ứng được yêu cầu của công việc ngày càng đa dạng và phức tạp. Do vậy, cần tăng cường điều kiện về phương tiện cơ sở vật chất cho các TAND cấp sơ thẩm, cụ thể như sau:

+ Hiện đại hóa các phương tiện làm việc và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác xét xử. Nhà nước nên có quy định rõ về việc cấp phát tài liệu và văn bản pháp luật cho Thẩm phán TAND hoặc trang bị cho mỗi Thẩm phán một máy tính cá nhân và phần mềm lưu trữ văn bản pháp luật được cập nhật định kỳ, để các Thẩm phán có điều kiện thuận lợi trong việc đối chiếu quy phạm và ADPL. Ứng dụng công nghệ thông tin và công tác thụ lý, theo dõi triệu tập những người tham gia tố tụng, công tác lưu trữ và cấp phát trích lục bản án sau khi xét xử.

+ Tăng cường việc cấp tài liệu, sách báo về khoa học pháp lý cho các Thẩm phán và cán bộ, nhất là các tạp chí lý luận chuyên ngành để họ có thể kịp thời nắm bắt được những thành tựu và sự phát triển của khoa học pháp lý trong tình hình mới.

+ Trang bị cơ sở vật chất và hiện đại hóa phòng xét xử của các TAND, đảm bảo cho hoạt động xét xử tại phiên tòa được thuận lợi, an toàn, phòng xét xử phải thể hiện được tính trang nghiêm, tạo ra ý thức tin tưởng vào công lý cho những người tham dự phiên tòa. Công tác bảo vệ cho Tòa án và các phiên tòa cũng cần phải được chú trọng, tránh các hiện tượng gây rối tại phiên tòa ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm ở nơi công đường.

Bên cạnh việc tăng cường điều kiện, phương tiện cơ sở vật chất, Nhà nước phải chú trọng đến việc hoàn thiện các chế độ chính sách đối với Thẩm phán và cán bộ Tòa án. Trong thời gian qua, chính sách đối với Thẩm phán và cán bộ TAND đã được quan tâm, được hưởng phụ cấp ngành, phụ cấp thâm niên để họ yên tâm công tác và đầu tư nhiều thời gian vào công tác chuyên môn.

Nghề Thẩm phán là một nghề có tính đặc thù riêng, vất vả, khó khăn, phức tạp, chịu nhiều áp lực, có khi còn gặp những nguy hiểm cho bản thân và gia đình. Do vậy, cần xây dựng cơ chế bảo vệ đối với Thẩm phán và gia đình họ, xây dựng quy định về chế độ bảo hiểm để họ được hưởng bồi thường khi gặp rủi ro trong cuộc sống và trong nghề nghiệp.

Như vậy, hoàn thiện chế độ, chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ và tăng cường điều kiện, phương tiện cơ sở vật chất cho TAND cấp sơ thẩm, nhất là đối với TAND huyện cần sớm được quan tâm, nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự ở Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm.

          Trên đây là một số giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến công tác giải quyết các vụ việc dân sự; giải pháp về công tác tổ chức cán bộ và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Tòa án cấp sơ thẩm nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trong thời gian tới.

Th.S: Đỗ Văn Đại - Chánh án TAND huyện Quế Võ

CÁC TIN KHÁC