Chủ nhật, 20/8/2017
Không có lịch xét xử trong ngày hôm nay


Những vướng mắc khi áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và một số kiến nghị.

25/6/2014 10:26

Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt, được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Song qua nghiên cứu lịch sử lập pháp của Nhà nước ta.

 

1. Lịch sử phát triển và những quy định hiện hành về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt, được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Song qua nghiên cứu lịch sử lập pháp của Nhà nước ta. Chúng tôi thấy, thủ tục này không phải là vấn đề mới, mà thủ tục này đã được quy định ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 33c/SL ngày 13/9/1945, thành lập Tòa án quân sự ở các địa phận khác nhau trong phạm vi cả nước nhằm bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng. Quy định về thủ tục rút gọn, được quy định tại Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về thẩm quyền của các Tòa án quân sự và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án. Cụ thể Sắc lệnh 51 đã quy định, Tòa án sơ cấp có quyền chung thẩm một số vụ án hình sự có tính chất vi cảnh như: “Những án phạt bạc từ 0,5đ đến 9đ” ; “Những án xử bồi thường từ 150đ trở xuống do nguyên cáo bị thiệt hại trong một vụ vi cảnh thỉnh cầu trong đơn khiếu, hay chậm nhất lúc việc vi cảnh đem ra phiên xử”. Sắc lệnh 51 còn quy định cho phép giản lược một số thủ tục đối với những vụ án tiểu hình nhất định thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp trong giai đoạn điều tra, truy tố như : “Ông biện lý có thể cho trát gọi thẳng bị can ra xét xử tại một phiên tòa tiểu hình gần nhất” ; trong trường hợp là một vụ tiểu hình phạm pháp quả tang thì “Ông biện lý phải hỏi cung ngay bị can và có thể hạ trát tống giam rồi đưa bị can ra xét xử tại một phiên tòa gần nhất”… Tại Điều 23, Sắc lệnh 51 – SL quy định “Nếu việc phạm pháp quả tang có thể xử phạt từ 05 năm tù trở xuống thì viện công tố có thể đưa ngay vụ án ra phiên tòa, không cần có cáo trạng…”.Tiếp đến trong giai đoạn từ năm 1954 đến khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, các cơ quan có thẩm quyền cũng đã ban hành nhiều văn bản dưới luật, quy định về thủ tục rút gọn như: Thông tư số 139 ngày 28/5/1974 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử các vụ án phạm pháp quả tang. Thông tư này quy định: Đối với các vụ án phạm tội quả tang không thuộc loại trọng án có đủ chứng cứ, bị can nhận tội, thì cơ quan Công an lập biên bản đưa sang Viện kiểm sát nhân dân để quyết định chuyển thẳng sang Tòa án để xét xử. Thông tư số 10 – TATC ngày 08/07/1974 của Tòa án nhân dân tối cao quy định về thủ tục rút ngắn trong việc điều tra, truy tố,xét xử một số vụ án hình sự ít quan trọng, phạm pháp quả tang, đơn giản, rõ ràng. Tiếp đó Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 01-TT ngày 28/2/1975 hướng dẫn về nội dung hoạt động của Kiểm sát viên trong công tác kiểm sát việc áp dụng thủ tục rút ngắn đối với các vụ án ít nghiêm trọng, phạm pháp quả tang, đơn giản, rõ ràng.

Như vậy: Thủ tục rút gọn đã được pháp luật Tố tụng hình sự nước ta quy định và áp dụng từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Tuy nhiên, trước đây những thủ tục này chỉ là thủ tục rút ngắn về thời gian tiến hành tố tụng mà chưa đơn giản hóa các thủ tục tố tụng. Chỉ đến khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 thì thủ tục rút gọn mới được quy định chi tiết và đầy đủ hơn.

Thủ tục rút gọn, được quy định tại chương XXXIV bao gồm các quy định từ Điều 318 đến 324, quy định về phạm vi áp dụng, các điều kiện áp dụng, thời hạn tiến hành tố tụng và xét xử sơ thẩm hình sự theo trình tự rút gọn. Có thể khẳng định, quy định về thủ tục rút gọn đã xác lập cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh chóng một số lượng lớn các vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ đơn giản, rõ ràng, việc điều tra, truy tố xét xử không mất nhiều thời gian mà từ trược tới nay vẫn được giải quyết theo thủ tục thông thường, góp phần hạn chế lượng án tồn đọng hàng năm tại các cơ quan tiến hành tố tụng ở các địa phương. Việc quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự là hết sức cần thiết và tiến bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, tiết kiệm được thời gian, chi phí tiền của cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Với những quy định tiến bộ và ý nghĩa của thủ tục rút gọn, lẽ ra thủ tục rút gọn phải được áp dụng triệt để và thường xuyên. Nhưng ở nhiều địa phương thì thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự hầu như đã bị bỏ quên. Năm 2004, khi Bộ luật tố tụng hình sự được triến khai thi hành, thủ tục rút gọn đã được áp dụng như để thử nghiệm đối với một vài vụ án, sau đó cho đến nay, thủ tục này không được áp dụng mặc dù không ít vụ án có đủ điều kiện để áp dụng. Tại sao lại có tình trạng như vậy? Theo chúng tôi, sở dĩ các cơ quan tiến hành tố tụng không mặn mà trong việc áp dụng thủ tục rút gọn một phần là do các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục này còn chưa hợp lý, mang tính chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng, nhất là về mối quan hệ giữa các quy định của thủ tục rút gọn và các thủ tục tố tụng chung bắt buộc phải thực hiện, một phần là do lãnh đạo các cơ quan tư pháp ở địa phương thiếu quan tâm, sâu sát trong chỉ đạo thực hiện.

2. Phạm vi, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn và những vướng mắc khi áp dụng.

2.1. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn.

Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 318 BLTTHS thì: “Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm được áp dụng theo quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của chương này”. Như vậy, thủ tục rút gọn chỉ áp dụng giới hạn trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và chỉ áp dụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm còn không áp dụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm! Chúng tôi cho rằng việc quy định như vậy là không đầy đủ và không phù hợp với tính chất và mục đích của thủ tục rút gọn. Nếu sau khi xét xử sơ thẩm, có kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự phúc thẩm thì vẫn phải áp dụng theo thủ tục chung mà theo quy định tại Điều 242 về thời hạn xét xử phúc thẩm thì “Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày…” . Như vậy, về thời hạn theo thủ tục rút gọn thì cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử là 30 ngày, trong khi giai đoạn phúc thẩm là 60 ngày, đây là điều không hợp lý, làm mất đi ý nghĩa của thủ tục rút gọn. Theo chúng tôi sẽ hợp lý và phù hợp hơn khi chúng ta cần có thêm quy định về thủ tục rút gọn đối với cả xét xử phúc thẩm trong chương XXXIV Bộ luật tố tụng hình sự.

2.2. Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn.

Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

“1. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang;

2. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;

3. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;

4. Người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng.”

Như vậy, thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi thỏa mãn bốn điều kiện nêu trên mà ở đó:

Thứ nhất: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, theo quy định tại Điều 82 BLTTHS thì phạm tội quả tang là trường hợp người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Đây chính là một trong những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi và chính xác vì người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối rõ ràng và đầy đủ.

Thứ hai: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng: là vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo… (Thông tư số 10/TATC năm 1974). Có thể hiểu phạm tội đơn giản là những vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp dễ xác định, vụ án ít bị cáo, các chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ từ đầu.

Thứ ba: Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng: Đó là loại tội phạm tính nguy hiểm cho xã hội không lớn mà theo quy định tại Điều 8 BLHS thì “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấylà đến ba năm tù…”

Thứ tư: Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng: Căn cước, lai lịch rõ ràng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm rõ được các yếu tố về nhân thân, gia đình, mối quan hệ xã hội… của người phạm tội một cách nhanh nhất, tạo điều kiện rút ngắn thời gian trong hoạt động tố tụng.

Những quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn như đã phân tích ở trên, theo chúng tôi là chưa đầy đủ, còn nhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng triệt để thủ tục tiến bộ này trong hoạt động tố tụng hình sự, dẫn đến nhiều địa phương bỏ quên không áp dụng thủ tục này trong hoạt động tố tụng hình sự. Những vướng mắc đó thể hiện như sau:

Như trên đã phân tích, chỉ các vụ án hình sự thỏa mãn bốn điều kiện đã nêu thì mới được áp dụng thủ tục rút gọn, song điều kiện thứ nhất quy định bắt buộc người phạm tội bị bắt quả tang là chưa hợp lý, hạn chế tới việc áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn hiện nay bởi lẽ:

Có rất nhiều vụ án tuy không phải thuộc trường hợp phạm tội quả tang, song sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, căn cước người phạm tội rõ ràng, song lại không được áp dụng thủ tục rút gọn vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang ví dụ: A trộm cắp của B một chiếc xe máy, hai hôm sau trên đường A đi tiêu thụ thì bị B phát hiện báo Công an bắt giữ A, A thừa nhận hành vi trộm cắp xe máy của B, tang vật được thu hồi trả lại ngay cho B.

Hoặc có những trường hợp người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình mà hành vi phạm tội đó cũng rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm được thực hiện cũng là tội phạm ít nghiêm trọng, lai lịch, căn cước rõ ràng, nhưng vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang nên cũng không được áp dụng thủ tục rút gọn ví dụ: Trước đó 6 tháng, A tới nhà B trộm cắp của B 01 điện thoại di động trị giá 7 triệu đồng mang về giấu ở nhà với mục đích sau này sẽ đem ra sử dụng, sau khi mất điện thoại, B đã có đơn trình báo ra cơ quan Công an. Trong lúc cơ quan Công an chưa xác định được ai là người lấy trộm điện thoại của B thì A đã tới Công an tự thú hành vi phạm tội của mình đồng thời mang nộp chiếc điện thoại mà mình đã trộm cắp cho cơ quan Công an…

Ngoài ra, qua thực tiễn xét xử chúng tôi thấy, có rất nhiều vụ án phạm tội nghiêm trọng, hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1, 2, 4 quy định tại Điều 319, song không thể áp dụng được thủ tục rút gọn vì không thỏa mãn với điều kiện thứ ba là “Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”. Như vậy, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Điều 319 BLTTHS hiện hành chỉ được áp dụng trong trường hợp phạm tội quả tang, đối với tội phạm ít nghiêm trọng, là không phù hợp với thực tiễn, bỏ sót rất nhiều vụ án có thể áp dụng được thủ tục rút gọn, nhưng lại không được áp dụng, làm mất nhiều thời gian, không hạn chế được lượng án tồn đọng, tốn kém về chi phí vật chất, gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, đôi khi còn vi phạm cả về thời hạn tạm giữ, tạm giam, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Theo chúng tôi, để khắc phục tình trạng trên cần bỏ điều kiện thứ nhất quy định tại Điều 319 BLTTHS, chỉ cần những vụ án mà sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét để quyết định có hay không việc áp dụng thủ tục rút gọn, chứ không nên quy định đóng khung như hiện nay. Có như vậy, thì những quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự mới được áp dụng rộng rãi hơn, đúng với ý nghĩa của thủ tục rút gọn là đơn giản hóa quá trình tố tụng, rút ngắn thời hạn tiến hành tố tụng nhằm giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết nhanh chóng vụ án.

2.3. Về thời hạn hoạt động tố tụng trong việc áp dụng thủ tục rút gọn.

Theo quy định tại các Điều 321, 323, 324 thì thời hạn hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng kể từ khi khởi tố vụ án tới khi xét xử là 30 ngày. Trong đó, thời hạn điều tra là 12 ngày, thời hạn truy tố là 4 ngày, thời hạn xét xử là 14 ngày. Theo chúng tôi quy định về thời hạn như vậy là không phù hợp và chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng ngại áp dụng thủ tục này vì sợ vi phạm về thời hạn. Nếu so sánh thời hạn hoạt động tố tụng hình sự của thủ tục rút gọn với thủ tục tố tụng hình sự thông thường thì thời hạn quy định cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự theo thủ tục rút gọn là quá ít. Bởi lẽ, đối với vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thời hạn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử là 5 tháng 15 ngày, trong khi đó thời hạn của thủ tục rút gọn chỉ là 30 ngày.

Với quy định về thời hạn như vậy, có rất nhiều vụ án trên thực tế mặc dù đã có quyết định áp dụng theo thủ tục rút gọn, nhưng sau đó lại phải hủy bỏ thủ tục rút gọn để áp dụng theo thủ tục tố tụng thông thường vì vi phạm thời hiệu. Những vướng mắc đó, thể hiện ngay trong quy định tại Điều 320 BLTTHS. Theo quy định tại khoản 1 Điều 320 thì chỉ cần có quyết định khởi tố vụ án và có đề nghị của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn mà chưa cần có quyết định khởi tố bị can! Nhưng tại khoản 2 Điều 320 lại quy định “Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Cơ quan điều tra, bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24h, kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn”. Nếu quy định như vậy, thì thời hạn để Viện kiểm sát xem xét ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn là bao lâu? Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can và Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định tố tụng vào thời điểm nào? Giả thiết, việc khởi tố bị can được tiến hành sau khi có quyết định của Viện kiểm sát về việc áp dụng thủ tục rút gọn, thì trong vòng 24h Cơ quan điều tra phải xác minh, ra quyết định khởi tố bị can, gửi cho Viện kiểm sát phê chuẩn, giao các quyết định tố tụng cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật, với khoảng thời gian như vậy liệu có đủ để Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động tố tụng hay không? Theo chúng tôi, quy định như vậy là chưa hợp lý vì luật cũng không quy định cụ thể Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát phải gửi cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nên dễ xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, đối với trường hợp người phạm tội không bị tạm giữ lại càng khó thực hiện hơn. Một vấn đề nữa cũng gây khó khăn cho Cơ quan điều tra, đó là quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại quy định tại khoản 3 Điều 320, Theo quy định tại khoản 3 Điều 320 thì trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại gửi cho Viện kiểm sát, Viện kiểm sát phải giải quyết khiếu nại đó trong vòng ba ngày.

Như vậy, nếu theo đúng trình tự quy định tại Điều 320 BLTTHS thì thời gian từ khi khởi tố, ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, gửi cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ, tiếp nhận khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có) thì thời gian tối đa là 8 ngày. Vậy Cơ quan điều tra, chỉ còn có 4 ngày để tiến hành điều tra. Với thời gian như vậy liệu Cơ quan điều tra có bảo đảm được đầy đủ các quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra để bảo đảm được việc điều tra đúng người, đúng tội đúng pháp luật hay không?

Một vấn đề bất cập nữa chúng tôi muốn nêu ra là: Trong toàn bộ các quy định tại chương XXXIV BLTTHS về thủ tục rút gọn không có điều luật nào đề cập đến vấn đề bào chữa, nếu trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu mời luật sư bào chữa thì chúng ta giải quyết thế nào? Thời hạn là bao nhiêu Ví dụ: Trong giai đoạn xét xử theo quy định tại Điều 324 quy định “1. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau đây: a /Đưa vụ án ra xét xử; b/ Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; c/ Tạm đình chỉ vụ án; d/ Đình chỉ vụ án.

2. Trong trường hợp ra quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án. Việc xét xử sơ thẩm được tiến hành theo thủ tục chung.”

Quy định như vậy, nếu sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tới ngày thứ sáu hoặc tại phiên tòa bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu mời luật sư thì giải quyết thế nào? Thời hạn là bao nhiêu, vì theo quy định thì khi áp dụng thủ tục rút gọn không được gia hạn. Nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu mời luật sư vì cho rằng vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì sẽ vi phạm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Nếu chấp nhận thì vi phạm về thời hạn. Đây cũng chính là một trong những vướng mắc và là nguyên nhân dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ngại áp dụng thủ tục rút gọn hoặc có áp dụng rồi lại phải ra quyết định hủy bỏ.

Việc áp dụng thủ tục rút gọn, ngoài việc rút ngắn thời hạn tiến hành tố tụng nhằm giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết nhanh chóng vụ án thì cũng cần có những quy định sửa đổi bảo đảm về thời gian phù hợp để bị can, bị cáo bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhất là bảo đảm quyền bào chữa quy định tại Điều 11 BLTTHS. Quy định về thời hạn như hiện nay, theo chúng tôi là quá ngắn dẫn đến có sự không tin tưởng của bị can, bị cáo vào năng lực, trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng hay các quyền lợi của họ sẽ không được bảo đảm như khi áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự thông thường.

3. Một số kiến nghị.

Từ những vướng mắc, bất cập của các quy định về áp dụng thủ tục rút gọn như đã phân tích ở trên, theo chúng tôi để thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, cần có hướng nghiên cứu, sửa đổi về phạm vi, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn cũng như về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sao cho phù hợp hơn, để thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự được áp dụng nhiều hơn, góp phần hạn chế lượng án tồn đọng như hiên nay, tiết kiệm được về thời gian và các chi phí tố tụng, bảo đảm được quyền lợi ích của công dân nói chung và bị can, bị cáo nói riêng cũng như bảo đảm được quyền bào chữa của bị can, bị cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trên cơ sở nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn hiện nay, chúng tôi mạnh dạn nêu ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung vào các quy định về áp dụng thủ tục rút gọn hiện hành như sau:

Điều 318. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn (bổ xung)

Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, Phúc thẩm được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này.

Điều 319. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn (chỉ cần quy định ba điều kiện có sự bổ sung thêm)

Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;

2. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng;

3. Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.

Điều 320. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn (bổ xung)

1… (giữ nguyên)

2. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Cơ quan điều tra và bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24h, kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.Cơ quan điều tra phải giải thích cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ biết rõ về thủ tục rút gọn cũng như quyền và nghĩa vụ của họ theo thủ tục rút gọn. Việc giải thích phải được thể hiện bằng văn bản.

3….(giữ nguyên)

Điều 321. Điều tra (bổ xung)

1.Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là mười tám ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

2… (giữ nguyên).

Điều 322. Tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố (bổ xung).

1….(giữ ngyên)

2…(giữ nguyên)

3.Thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố không được quá 25 ngày.

Điều 323. Quyết định việc truy tố (bổ xung).

1Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a/ Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố; b/ Trả hồ sơ để điều tra bổ xung; c/ Tạm đình chỉ vụ án; d/ Đình chỉ vụ án.

2…. (giữ nguyên).

Điều 324. Xét xử. (bổ xung)

1.Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây:

a/ Đưa vụ án ra xét xử; b/ Trả hồ sơ để điều tra bổ xung; c/ Tạm đình chỉ vụ án; d/ Đình chỉ vụ án.

2.Trong trường hợp ra quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án. Việc xét xử sơ thẩm được tiến hành theo thủ tục chung.

3…(giữ nguyên)

4.Trong trường hợp cần thiết, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc xét xử. Thời hạn tạm giam không được quá hai mươi ngày.

Điều 324 a. Xét xử phúc thẩm (bổ xung).

1. Trong thời hạn mười năm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa xét xử phúc thẩm. Việc xét xử phúc thẩm được tiến hành theo thủ tục chung.

2. Việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung.

Trên đây là một số kiến nghị của chúng tôi, nhằm để thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, được áp dụng rộng rãi góp phần giải quyết nhanh chóng vụ án, tiết kiệm được kinh phí, lực lượng và thời gian trong quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vô tư, khách quan. Đồng thời còn bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước pháp luật.

 

TS. Phạm Minh Tuyên - Phó chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh

CÁC TIN KHÁC