Thứ Năm, 23/11/2017
Không có lịch xét xử trong ngày hôm nay


Luật TNBTNN 2017: Bổ sung quy định về khởi kiện yêu cầu bồi thường

02/11/2017 14:05

Luật TNBTNN năm 2017 đã có những quy định bổ sung về thương lượng việc bồi thường; về khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án nhằm tạo điều kiện, đảm bảo quyền lợi của người dân khi yêu cầu giải quyết bồi thường.

Quy định cụ thể các bước tiến hành thương lượng

Về nội dung thương lượng, Luật TNBTNN năm 2017 bổ sung quy định về nội dung thương lượng việc bồi thường, bao gồm: Các loại thiệt hại được bồi thường; Số tiền bồi thường; Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); Phương thức chi trả tiền bồi thường; Các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 quy định cụ thể các bước tiến hành thương lượng tại khoản 6 Điều 46, đảm bảo tính minh bạch, thống nhất trong quá trình thương lượng. Luật mới cũng bổ sung quy định về biên bản kết quả thương lượng. Quy định hướng xử lý trong trường hợp thương lượng thành và thương lượng không thành..

Theo quy định cũ, thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường là 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc thương lượng, Luật TNBTNN năm 2017 quy định việc ra quyết định giải quyết bồi thường phải được thực hiện ngay sau khi có biên bản kết quả thương lượng thành và quyết định phải được trao tại buổi thương lượng. Luật cũng dự liệu trường hợp người yêu cầu bồi thường không nhận quyết định giải quyết bồi thường và cách xử lý của cơ quan giải quyết bồi thường. Đồng thời quy định cụ thể về nội dung quyết định giải quyết bồi thường, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường.

Luật TNBTNN năm 2017 bổ sung 4 điều luật mới quy định về hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường, hoãn,  tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường. Đây là một quy định rất cần thiết và quan trọng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan nhà nước. Khắc phục được tình trạng lúng túng trong giải quyết bồi thường do Luật TNBTNN năm 2009 không quy định việc hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết bồi thường.

 Khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án

Về khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án, Điều 22 Luật TNBTNN 2009 chỉ quy định  hai trường hợp khởi kiện: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường quy định tại Điều 20 của Luật này mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định; Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 23 của Luật này để yêu cầu giải quyết bồi thường

Để  bảo đảm tối đa quyền lợi của người dân, Điều 52 Luật TNBTNN năm 2017 đã bổ sung 3 trường hợp người bị hại có quyền khởi kiện và quy định cụ thể về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án. Theo đó, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện trong các trường hợp: Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường; Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường đã yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường, nhưng sau đó người đó rút đơn trước thời điểm cơ quan này tiến hành xác minh thiệt hại; Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành giữa cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại với người yêu cầu bồi thường mà cơ quan đó không ra quyết định giải quyết bồi thường; Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành giữa cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại với người yêu cầu bồi thường.

Đại diện Viện KSND tỉnh Sóc Trăng tiến hành thủ tục bồi thường oan sai cho một công dân   

Luật TNBTNN năm 2017 cũng  quy định rõ trường hợp người yêu cầu bồi thường không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường quy định tại Điều 47 của Luật TNBTNN năm 2017 đã có hiệu lực pháp luật.

Việc giải quyết bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trường hợp vụ việc đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án được áp dụng theo thủ tục rút gọn.

Luật cũng bổ sung quy định về các trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người yêu cầu bồi thường không thể khởi kiện đúng thời hạn thì khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không được tính vào thời hạn khởi kiện. Đồng thời quy định tư cách (là bị đơn) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại khi tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án.

Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án

Theo quy định của Luật TNBTNN năm 2009, Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường là TAND cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở, nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Luật TNBTNN năm 2017 quy định rõ hơn nữa thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh theo từng trường hợp cụ thể: Tòa án cấp huyện nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của bị đơn theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị đơn là các cơ quan sau: Cơ quan quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 33 của Luật này (Gồm UBND cấp huyện và UBND cấp xã là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình); Cơ quan quy định tại các khoản 5, 6 và 7 Điều 33 của Luật này ở cấp huyện và cấp xã; (Gồm các cơ quan: Cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin; Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo; Cơ quan ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức); Cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp huyện.

Tòa án cấp tỉnh nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

Tải file ,,,,

PV

CÁC TIN KHÁC