Thứ Hai, 20/11/2017
Không có lịch xét xử trong ngày hôm nay


NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA HƯỚNG DẪN THI ĐUA NĂM 2012

25/6/2014 13:30

(Công văn số 62/TANDTC-TĐKT ngày 25/4/2012 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi đua khen thưởng trong ngành Tòa án nhân dân)

 

Ngày 25/4/2012, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 62/TANDTC-TĐKT hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng trong ngành Tòa án nhân dân năm 2012 có những điểm mới so với Công văn số 38/TANDTC-TĐKT ngày 15/3/2011 hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng trong ngành Tòa án nhân dân năm 2011 như sau:

1-    Về đối tượng khen thưởng:

Tại mục I phần I Công văn số 62 quy định đối với các tập thể trong ngành Tòa án nhân dân gồm các đơn vị cơ sở và các tập thể nhỏ:

Đối với các đơn vị cơ sở: gồm các đơn vị thuộc TANDTC, các TAND cấp tỉnh, các TAND cấp huyện.

Còn Công văn số 38 quy định các TAND cấp huyện thuộc tập thể nhỏ.

Như vậy điểm mới ở đây là quy định TAND cấp huyện là đơn vị cơ sở, hàng năm TAND cấp huyện nếu hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu thi đua thì có thể được đề nghị Chánh án TAND tối cao tặng Bằng khen, như đối với Tòa án cấp tỉnh.

Đối với cá nhân: Quy định thêm đối tượng là người lao động đang làm việc trong các đơn vị thuộc TANDTC, các TAND địa phương theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định 68 ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và có tổng thời gian lao động liên tục từ 01 năm trở lên.

2- Về một số lưu ý khi vận dụng nguyên tắc thi đua, khen thưởng:

Tại điểm 4, mục II: Thêm phần đ: Việc xét, đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước phải căn cứ vào bề dày thành tích đã đạt được trong quá trình xét khen. Tuy nhiên, bề dày thành tích không phải đơn thuần chỉ là việc cộng dồn những danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng đã đạt được, mà phải đặc biệt chú ý đến yếu tố “tiêu biểu, nổi bật, tầm ảnh hưởng và sự lan tỏa của những thành tích đó đối với thành tích chung của đơn vị và của ngành”. Do đó chỉ xét, đề nghị khen thưởng cấp nhà nước đối với những tập thể, cá nhân thực sự tiêu biểu, nổi bật; thực sự là những tấm gương sáng để học tập và nhân rộng trong toàn ngành Tòa án nhân dân.

3- Về hình thức, nội dung và chính sách khen thưởng:

Tại phần III, thêm cả điểm 2 “tổ chức phong trào thi đua”: bao gồm các điểm a,b,c,d: quy định về tổ chức phong trào thi đua, tổ chức sơ kết, tổng kết phong trào, đánh giá kết quả thi đua, lựa chọn công khai những tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc trong phong trào thi đua để biểu dương, khen thưởng.

4- Các trường hợp không được xét khen thưởng hoặc hạ mức khen thưởng:

 Tại mục II phần II, bổ sung mới cả điểm 3 về các trường hợp thực hiện không đúng quy định, hướng dẫn của ngành về công tác thi đua khen thưởng.

a- Các tập thể, các nhân được đề nghị khen thưởng không đúng tiêu chuẩn và điều kiện khen thưởng, không đúng thời điểm khen thưởng, vượt quá chỉ tiêu khen thưởng được phân bổ, vi phạm trong việc lập hồ sơ khen thưởng (như báo cáo thành tích không đúng mẫu quy đinh, báo cáo chậm, nội dung báo cáo không đầy đủ, không chính xác phải làm lại nhiều lần; hồ sơ khen thưởng không đầy đủ, không đúng hướng dẫn của ngành, hồ sơ gửi đến Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp muộn hơn thời gian quy định…” thì tùy theo mưc độ vi phạm có thể không được xem xét đề nghị khen thưởng.

b- Đối với các đơn vị thực hiện không đúng quy định, hướng dẫn của ngành về công tác thi đua khen thưởng, thì tập thể đơn vị, Chủ tịch, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng thi đua khen thưởng và cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng không được xét, đề nghị khen thưởng hoặc hạ mức khen thưởng do không nghiêm túc thực hiện các hướng dẫn của ngành về tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng, thủ tục và hồ sơ đề nghị khen thưởng.

5- Tiêu chuẩn các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng: Tại mục III, phần II.

Danh hiệu lao động tiên tiến: Quy định đối với Thẩm phán, trong năm có số án bị hủy không vượt quá 1,16%, hoặc số án bị sửa không vượt quá 4,2% so với số án đã giải quyết, xét xử (do lỗi chủ quan của Thẩm phán); Công văn số 38 năm 2011 quy định là: án hủy không quá 1,5%, án sửa không quá 4,5%.

Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở: Quy định về số lượng Chiến sỹ thi đua cơ sở được phân bổ như sau:

+ Các tập thể được đề nghị khen thưởng từ danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” trở lên: số lượng cá nhân được đề nghị khen thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở không vượt quá 25% tổng biên chế của đơn vị cơ sở.

+ Các tập thể khác: Số lượng các cá nhân được đề nghị khen thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở không vượt quá 20% tổng biên chế của đơn vị cơ sở.

(Công văn số 38 năm 2011 quy định số lượng Chiến sỹ thi đua cơ sở không vượt quá 30% tổng biên chế của các đơn vị thuộc TANDTC hoặc của ngành TAND cấp tỉnh).

* Các danh hiệu Lao động tiên tiến, Chiến sỹ thi đua cơ sở, Chiến sỹ thi đua ngành Tòa án nhân dân phải được ít nhất 2/3 cán bộ công chức tập thể nhỏ suy tôn, giới thiệu.

Danh hiệu tập thể lao động tiên tiến: Quy định số án bị hủy không vượt quá 1,16% hặc án bị sửa không vượt quá 4,2% so với số án đã giải quyết. Công văn số 38 năm 2011 quy định là: án hủy không quá 1,5%, án sửa không quá 4,5%.

Đối với các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước: (Chiến sỹ thi đua toàn quốc, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, huân chương các hạng): ngoài các tiêu chuẩn chung ra, Công văn số 62 còn quy định phải được ít nhất 75% cán bộ, công chức của đơn vị cơ sở (Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện) bỏ phiếu nhất trí suy tôn, giới thiệu mới được xem xét và đề nghị khen thưởng.

6- Việc bỏ phiếu suy tôn tại Cụm thi đua, đơn vị cơ sở, tập thể nhỏ và bỏ phiếu kín của Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp:

Tại điểm 1, mục II phần III, quy định mới về việc Hội đồng thi đua các cấp phải bỏ phiếu kín khi xét các danh hiệu thi đua từ Chiến sỹ thi đua cơ sở, danh hiệu tập thể lao động xuất sắc và các hình thức khen thưởng từ Bằng khen trở lên. Chỉ các trường hợp đạt tỷ lệ phiếu bầu từ 2/3 trở lên, tính tổng số thành viên của HĐTĐKT thì mới đủ điều kiện trình khen thưởng.

Mỗi vòng bỏ phiếu không quá 02 lần. Nếu sau 02 lần bỏ phiếu mà chưa lựa chọn được tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng, thì việc xét, đề nghị khen thưởng do Thủ trưởng đơn vị cơ sở hoặc Trưởng và Phó trưởng cụm thi đua (đối với danh hiệu Cờ thi đua) quyết định. Trong trường hợp này, các tập thể, cá nhân là nhân tố mới, các tập thể, cá nhân có thành tích công tác nổi bật hơn sẽ được ưu tiên xét, đề nghị khen thưởng.

7- Về nguyên tắc khen thưởng: Công văn số 38 năm 2011 và Công văn số 62 năm 2012 đều hướng dẫn về nguyên tắc khen thưởng như sau:

- Trong một đợt xét khen thưởng, với cùng một thành tích và một khoảng thời gian xét khen thưởng, nếu các tập thể, cá nhân được khen thưởng nhiều danh hiệu thi đua khác nhau, thì chỉ được nhận tiền thưởng của danh hiệu thi đua có mức tiền thưởng cao nhất.

Ví dụ: Một cá nhân đã được tặng thưởng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” thì cá nhân này chỉ được nhận một khoản tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”.

- Trong một đợt xét khen thưởng, nếu các tập thể, cá nhân được khen thưởng nhiều danh hiệu thi đua, mà các danh hiệu thi đua đó có thành tích và thời gian xét khen thưởng khác nhau, thì được nhận tiền thưởng của tất cả danh hiệu thi đua đó.

Ví dụ: Một cá nhân đã được tặng thưởng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” sau đó cá nhân này được xét, tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua ngành Tòa án nhân dân” thì cá nhân này được nhận 2 khoản tiền thưởng là tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” và tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Chiến sỹ thi đua ngành Tòa án nhân dân”.

          - Trong một đợt xét khen thưởng, nếu các tập thể, cá nhân vừa đạt danh hiệu thi đua vừa đạt hình thức khen thưởng thì được nhận tiền thưởng của danh hiệu thi đua có mức tiền thưởng cao nhất và của cả hình thức khen thưởng.

        Ví dụ 1: Một tập thể đã được tặng thưởng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, sau đó được tặng thưởng Giấy khen, thì tập thể này được nhận 2 khoản tiền thưởng là tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến” và tiền thưởng kèm theo Giấy khen.

         Ví dụ 2: Một cá nhân đã được tặng thưởng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”, sau đó được xét, tặng thưởng Bằng khen của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thì cá nhân này được nhận 2 khoản tiền thưởng là tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” và tiền thưởng kèm theo Bằng khen.

         Ví dụ 3: Một cá nhân đã được tặng thưởng danh hiệu “Chiến sỹ hti đua cơ sở”, sau đó cá nhân này được xét, tặng thưởng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua ngành Tòa án nhân dân”, đồng thời được tặng thưởng Bằng khen của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thì cá nhân này được nhận 3 khoản tiền thưởng là tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”, tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Chiến sỹ thi đua ngành Tòa án nhân dân” và tiền thưởng kèm theo Bằng khen.

         - Ngoài các hình thức khen thưởng theo thẩm quyền của ngành Tòa án nhân dân trình hoặc quyết định khen thưởng, nếu tập thể, cá nhân trong ngành Tòa án nhân dân được địa phương hoặc ngành khác khen thưởng, thì vẫn được nhận tiền thưởng của địa phương hoặc ngành khác chi kèm theo hình thức khen thưởng theo quy định chung.

CÁC TIN KHÁC